Câu hỏi: Công trình sử dụng vốn ODA có được coi là vốn ngân sách nhà nước để được hưởng quy định không phải nộp tiền chậm nộp thuế hay không?

Người hỏi: Nguyễn Thành Trung / Địa chỉ: Nguyễn Thành Trung / Ngày hỏi: 13/10/2016

"Công ty tôi là công ty xây dựng, năm 2016 công ty tôi có thực hiện thi công công trình có sử dụng nguồn vốn ODA - vốn viện trợ không hoàn lại do Sở Xây dựng làm chủ đầu tư. Theo quy định của chính sách thuế hiện hành thì doanh nghiệp thi công công trình có vốn ngân sách nhà nước nếu chưa được nhà nước thanh toán thì không phải nộp tiền chậm nộp đối với khoản chưa được thanh toán. Tôi xin hỏi cơ quan thuế, vậy công trình sử dụng vốn ODA có được coi là vốn ngân sách nhà nước để được hưởng quy định không phải nộp tiền chậm nộp hay không? Tôi xin cảm ơn".

Câu trả lời:

Cục Thuế tỉnh Yên Bái có ý kiến như sau:

Tại Điều 1; Khoản 1 Điều 2 Luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Ngân sách Nhà nước quy định:

"Điều 1.

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Điều 2.

1. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật".

Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ quy định về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ quy định:

"Điều 6. Nguyên tắc cơ bản trong quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi

1. ODA và vốn vay ưu đãi là nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước được sử dụng để thực hiện các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và được phản ánh trong ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật".

Tại điểm 1, Khoản 10, Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:

"Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014) như sau:

10. Bổ sung Điều 34a như sau:

“Điều 34a. Không tính tiền chậm nộp

1. Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán (sau đây gọi chung là người nộp thuế) nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế."

Căn cứ theo các quy định nêu trên, trường hợp đơn vị của Ông Nguyễn Thành Trung có cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước (nguồn vốn ODA - vốn viện trợ không hoàn lại) nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước (Sở Xây dựng) thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì đơn vị của Ông thuộc trường hợp không tính chậm nộp theo quy định tại điểm 1, Khoản 10, Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Trên đây là nội dung trả lời của Cục Thuế tỉnh Yên Bái đối với câu hỏi của ông Nguyễn Thành Trung (thành phố Yên Bái).

Ban biên tập Cổng TTĐT tỉnh Yên Bái trân trọng cảm ơn quý cơ quan đã có ý kiến trả lời công dân.

Tệp đính kèm

Ngày trả lời: 13/10/2016