HUYỆN LỤC YÊN
Quá trình hình thành và tên gọi: (Giới thiệu sơ lược vị trí, tên gọi qua các thời kỳ lịch sử...)
Lục Yên là một đơn vị hành chính trên địa bàn Yên Bái đầu thế kỷ XIX khi Yên Bái thuộc về Hưng Hoá và Tuyên Quang.
Vào năm 1910, Lục Yên được sáp nhập vào Yên Bái trở thành một trong 4 huyện và một châu, khi đó có 6 tổng.
Khi thành lập 2 huyện mới là Bảo Yên và Văn Yên theo Quyết định số 117/CP ngày 16/12/1964 của Hội đồng Chính phủ, 14 xã của Lục Yên được cắt về huyện Bảo Yên.
Giai đoạn 1965 - 1975 theo Quyết định điều chỉnh các đơn vị cấp xã của Bộ trưởng Bộ Nội vụ số 21/NV ra ngày 28/1/1967, cắt 2 xã An Phú và Phú Mỹ của huyện Yên Bình sáp nhập về huyện Lục Yên. Sau đó theo Quyết định số 23/NV tại huyện Lục Yên, giải thể các xã Quyết Thắng, Tân Thành, Trần Phú, Hợp Thành và Đồng Tâm, điều chỉnh các xóm giải thể về các xã Tân Lập, Hồng Quang, Tô Mậu, Phúc Lợi, Tân Lĩnh. Tiếp theo là quyết định của Hội đồng Chính phủ thành lập thị trấn huyện lỵ Lục Yên.
Tại kỳ họp thứ IX, Quốc hội khoá VIII ngày 12/8/1991 quyết định chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, trong đó Yên Bái được tái lập gồm 8 đơn vị hành chính là thị xã tỉnh lỵ Yên Bái và 7 huyện: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên, Lục Yên.
Huyện miền núi Lục Yên hiện là đơn vị hành chính cấp huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp với huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang và Bắc Giang tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, phía Nam là huyện Văn Yên và huyện Yên Bình, phía Đông giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang). Huyện lỵ là thị trấn Yên Thế nằm cách quốc lộ 70 khoảng 10 km về hướng đông và cách thành phố Yên Bái 60 km về hướng bắc. Huyện có diện tích tự nhiên là 80.919,03ha, gồm 24 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, trong đó có 10 xã và 2 thôn được Nhà nước công nhận là vùng III.
Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Nhiệt độ trung bình từ 22 - 24oC.
Tổng dân số toàn huyện năm 2008 là 105.104 người. Mật độ dân số bình quân là 130 người/km2. Lục Yên có 16 dân tộc anh em trong đó dân tộc Tày chiếm 53,3%, Kinh 21,2%, Nùng 10,4%, còn lại là các dân tộc khác.
Huyện Lục Yên nằm trên toạ độ địa lý: từ 21055’30’’ đến 22003’30’’ vĩ độ Bắc; từ 104030’ đến 104053’30’’ kinh độ Đông. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 đến 150m. Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Yên Thế cách trung tâm tỉnh lỵ 93 km và cách Hà Nội 270km, có tuyến quốc lộ 70 chạy qua nối Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai.
Một số đặc điểm tự nhiên, văn hoá, xã hội
- Núi, sông, hồ
Trên địa bàn huyện Lục Yên có hai dãy núi chính chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hữu ngạn sông Chảy là dãy Con Voi có độ cao trung bình là 300 - 400 m, đỉnh cao nhất là 1.148m, độ dốc trung bình là 400, bề mặt địa hình núi bị các khe suối chia cắt thành các thung lũng nhỏ, bồn địa bằng phẳng là nơi dân cư tập trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời.
Phía tả ngạn sông Chảy là dãy núi đá lớn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình là 935m, đỉnh cao nhất có độ cao là 1.035m, độ dốc lớn, sườn núi bị cắt xẻ thành các đỉnh sắc nhọn, có độ dốc trên 700, rất hiểm trở, hầu hết được bao phủ bởi rừng tự nhiên.
Giữa hai dãy núi là thung lũng sông Chảy với các cánh đồng phì nhiêu và hồ Thác Bà trong ranh giới huyện Lục Yên rộng 4.500,5 ha.
Tuy có hai dãy núi chạy hai bên, nhưng diện tích đất có độ dốc dưới 250 vẫn chiếm trên 53% tổng diện tích tự nhiên nên mức độ khai thác lãnh thổ khá thuận tiện.
Hệ thống sông Chảy là hệ thống sông chủ yếu trên địa bàn huyện, mật độ sông suối đạt 1,1km/km2. Đoạn sông Chảy chảy qua huyện Lục Yên dài 65 km với nhiều chi lưu lớn như ngòi Trúc Lâu, ngòi Vàn, ngòi Đại Cại, ngòi Biệc...
Hồ Thác Bà trên địa bàn huyện là hồ lớn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, trong đó có tiềm năng du lịch rất lớn. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 153 hồ thuỷ lợi lớn nhỏ khác phục vụ tưới cho 1.487/2.520 ha đất canh tác nông nghiệp của huyện và phục vụ các nhu cầu dân sinh kinh tế khác.

- Chợ, phố xá
Hiện tại Lục Yên có 11 chợ thuộc 9 xã, nhưng đều là chợ tạm.
Hệ thống phố xá trong huyện còn đang trong giai đoạn phát triển cùng với tiến độ đô thị hoá thị trấn.
- Sản vật (lâm, thổ sản, khoáng sản...)
Đất lâm nghiệp là 59.417,33 ha hàng năm trồng mới từ 1.500 đến 2.000 ha. Diện tích che phủ rừng trên 70% . Rừng tự nhiên hiện còn khoảng trên 16.000ha với trữ lượng gỗ tương đối cao (khoảng 160 m3/ha), ngoài gỗ, trong rừng còn nhiều loại lâm thổ sản khác có giá trị.
Theo các tài liệu nghiên cứu địa chất thì trên địa bàn huyện Lục Yên đã phát hiện:
* Than nâu ở Hồng Quang có trữ lượng 16.000 tấn, trước đây đã được khai thác.
* Đá ốp lát ở Tân Lĩnh, Liễu Đô có trữ lượng khoảng 250 triệu m3.
* Đá vôi có cường độ 300 - 500 kg/cm2, có hàm lượng CaO cao trữ lượng khoảng 135 triệu m3.
* Photphotit tập trung ở Tân Lĩnh với trữ lượng khoảng 112.000 tấn.
* Đá quý và bán quý phân bố trên diện tích 113 km2. Đây là sản vật của Lục Yên đã được khai thác trong những năm cuối của thế kỷ trước.
Các đơn vị xã, thị trấn trong huyện:
Toàn huyện có 24 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thị trấn là thị trấn Yên Thế và 23 xã: Tân Phượng, Lâm Phượng, Khánh Thiện, Minh Chuẩn, Mai Sơn, Khai Trung, An Lạc, Tô Mậu, Khánh Hòa, Động Quan, Trúc Lâu, Phúc Lợi, Trung Tâm, An Phú, Phan Thanh, Minh Tiến, Tân Lập, Liễu Đô, Vĩnh Lạc, Mường Lai, Minh Xuân, Tân Lĩnh, Yên Thắng.
v Huyện Mù Cang Chải
v Thị xã Nghĩa Lộ
v Huyện Trấn Yên
v Huyện Văn Yên
v Huyện Yên Bình
v Huyện Văn Chấn
v Huyện Trạm Tấu
v Thành Phố Yên Bái
v Trang chủ dư địa chí huyện, thị