TÀI NGUYÊN ĐẤT
 |
Theo tiêu chuẩn phân loại của FAO-UNESCO, đất đai Yên Bái được chia thành 7 nhóm với 16 đơn vị đất và 35 đơn vị đất phụ |
CÁC NHÓM ĐẤT:
Nhóm đất phù sa: Ký hiệu (p) (Fhivisols ) (FL)
Nhóm đất này có diện tích khoảng 9.171,0 ha, chiếm 1.33% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố được hầu hết các huyện trong tỉnh, nhưng phần lớn tập trung ở lưu vực các con sông, suối lớn như sông Hồng, sông Chảy, Ngòi Thia... khu vực có diện tích tập trung nhiều nhất là bồn địa Văn Chấn và trở thành cánh đồng phù sa trồng lúa lớn nhất tỉnh; các cánh đồng phù sa của huyện Văn Yên, Trấn Yên, Lục Yên, Yên Bình.
Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của các con sông suối trong tỉnh, tùy theo thành phần mẫu chất mà các khu vực có những đặc tính lý, hóa học khác nhau.
Nhóm đất này có đặc tính xốp lớn, hàm lượng chất hữu cơ giảm theo chiều sâu của đất, ngoài tầng A bị xáo trộn có màu xám hoặc tơi mềm hoặc tối màu hoặc có tầng H tích lũy chất hữu cơ, ngoài ra không có tầng chuẩn đoán nào khác.
Khả năng khai thác, sử dụng của loại đất này thích hợp trồng lúa, cây màu, các loại và hiện nay đã và đang được đưa vào khai thác, sử dụng cơ bản hết.
Nhóm đất glay (GL) (Gleysols) (GL):
Nhóm đất này có diện tích khoảng 4.227 ha chiếm 0,61% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phân bố rải rác hầu hết các huyện, nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên, trên các địa hình thấp trũng hoặc thung lũng giữa các dãy núi, khả năng thoát nước kém.
Đất giây hình thành từ các vật liệu không gắn kết từ các vật liệu có thành phần cơ giới thô và trầm tích phù sa có đặc tính Fluvie, thường hình thành ở địa hình đọng nước và những nơi có mực nước ngầm nông; đất có màu nâu đen, xám đen, lầy thụt, bão hoà nước có tính trương co lớn, khi khô trở thành cứng rắn. Trong đất có quá trình khử chiếm ưu thế.
Khả năng khai thác thích hợp và được sử dụng chủ yếu cho trồng lúa nước, tận dụng làm hồ, đầm, ao nuôi thuỷ sản.
Nhóm đất đen (R) Luvíols (LV):
Nhóm đất này có diện tích khoảng 902 ha chiếm 0,13% diện tích tự nhiên của tỉnh. Phân bố tập trung tự nhiên ở Lục Yên, trên các địa hình thung lũng và chân núi đá vôi; diện tích thích hợp và xen kẽ giữa các loại đất khác.
Nhóm đất này được hình thành trên địa hình thung lũng hoặc chân đồi núi đá vôi, nên chủ yếu là đất đen trên đá vôi, có thành phần cơ giới nặng, có tầng BAngic tính sét với khả năng trao đổi cation lớn, thường là hơn 24me/100g đất, độ no bazơ trên 50% trong suốt tầng B cho đến 125 cm.
Do địa hình thấp, tích luỹ nhiều chất hữu cơ nên đất đai có màu đen hoặc nâu thẫm điển hình. Phần lớn nhóm đất này có tầng mỏng do có nhiều kết vón ở thung lũng và đá mẹ ở đất đồi. Đất này có hàm lượng mùn cao. Thích hợp với khả năng trồng lúa ở địa hình trũng và rau màu các loại; cây ăn quả ở địa hình cao.
Nhóm đất xám (X) A críols (AC):
Nhóm này có diện tích khoảng 566.923 ha chiếm 82.37%, diện tích tự nhiên toàn tỉnh, là nhóm có diện tích lớn nhất tỉnh, phân bổ phần lớn diện tích núi của tỉnh, ở độ cao dưới 1.800m ở tât cả các huyện trong tỉnh, song tập trung nhiều nhất ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Mù Cang Chải.
Đây là nhóm đất được hình thành tại chỗ ở địa hình đồi núi, chủ yếu có độ dốc lớn. Đất có tầng B tính sét với khả năng trao đổi cation dưới 24me/100g đất, độ nobazơ nhỏ hơn 50%. Tối thiểu ở một phần của tầng B ở lớp đất từ 0-125 cm. Không có tầng E nằm đột ngột ngay ở trên một phần có tính thấm chậm. Theo phân loại của nhóm đất này gồm các loại đất bạc màu, đỏ vàng trên đá macma ãit, phiến sét, phù sa cổ, đá cát… đất có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, hoạt tính thấp.
Nhóm đất này có khả năng thích hợp trồng cây nông nghiệp, công nghiệp ở vùng thấp, trồng rừng và bảo vệ rừng ở địa hình đồi núi cao.
Nhóm đất đỏ (F) Ferralsols ( FR):
Nhóm đất này có diện tích khoảng 12.103 ha chiếm 1,76% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Được phân bổ rải rác ở một số vùng cao nhưng chủ yếu tập trung ở huyện Trạm Tấu, Lục Yên, Văn Chấn; trên các khu vực địa hình núi phát triển trên đá vôi, đá macma bazơ hoặc trung tính.
Nhóm đất này là loại đất hình thành tại chỗ do sự phong hoá của các loại đá macma bzơ hoặc trung tính đá vôi; có độ dốc trên 150, có tầng dày trên 30cm, có khả năng trao đổi cation (CEC) nhỏ hơn hoặc bằng 16me/100gam đất, có dưới 10% khoảng có thể phong hoá, có dưới 10% sét phân tán trong nước.
Nhìn chung đây là nhóm đất có khả năng phản ứng chua, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét chủ yếu là kaolinit, có quá trình tích luỹ Fe và Al cao, hạt kết vón tương đối bền. Đây là khả năng thích hợp cho sản xuất nông - lâm nghiệp.
Nhóm đất mùn Alít núi cao (A)- Alisols (AL):
Nhóm đất này có diện tích khoảng 55.078 ha chiếm 8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Phân bố rải rác ở các huyện, nhưng tập trung nhiều ở các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, trên địa hình núi cao có độ cao tuyệt đối trên 1.800m.
Nhóm đất này được hình thành tại chỗ ở độ cao trên 1.800m, nhiệt độ thấp, quá trình tích luỹ mùn chiếm ưu thế, quá trình khoáng hoá yếu, đất có phản ứng chua (Phkcl từ 4-5), độ no bazơ (dưới 30%), hàm lượng mùn ở tầng mặt giàu (trên 5%), các tầng dưới giảm đột ngột, đất phần lớn có tầng mỏng dưới 100 cm.
Nhóm đất này chủ yếu thích nghi và có khả năng khai thác cho trồng cây dược liệu, trồng và khoanh nuôi rừng phòng hộ.
Nhóm đất tầng mỏng (E)- Leptols (LP):
Nhóm đất này có diện tích khoảng 1.824 ha chiếm 0,27% diện tích tự nhiên tòan tỉnh. Phân bố tập trung ở Lục Yên, Văn Yên, Văn Chấn và trên vùng đất đồi có độ dốc trên 200, đất có tầng mỏng dưới 30 cm, có nơi có nhiều đá lộ đầu.
Nhóm đất này được hình thành trên địa hình cao, phát triển trên các loại đá macma ãit hoặc đá biến chất, đá vôi, tầng đất mỏng lẫn nhiều đá vụn phong hoá dở dang, chủ yếu là do quá trình rửa trôi, xói mòn nên càng ngày càng mỏng, có nơi trơ đá gốc. Đất thường có phản ứng chua (PHkcl< 4,5), độ no bazơ thấp, hàm lượng dinh dưỡng thấp.