Giới thiệu  

  TÀI NGHUYÊN KHOÁNG SẢN

  

 

  

1. Tiềm năng khoáng sản tỉnh Yên Bái

Theo báo cáo quy hoạch phân vùng hoạt động khoáng sản tỉnh Yên Bái đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có 257 mỏ và điểm quặng, với các loại khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại và khoáng chất công nghiệp, khoáng sản quý hiếm đến nước khoáng, nước nóng, cụ thể như sau:

- Khoáng sản nhiên liệu: Tập trung chủ yếu là than bán antranxit, than nâu và than bùn. Nhưng nhìn chung các điểm than đều có trữ lượng ít, quy mô nhỏ. Được phát hiện ở các huyện Văn Chấn, Lục Yên và Trấn Yên, tài nguyên dự báo khoảng 779.000 tấn.

- Khoáng sản kim loại và kim loại quý, các khoáng sản chủ yếu gồm: sắt, đồng và chì - kẽm, phân bố không tập trung, theo công tác địa chất đã điều tra trữ lượng chỉ ở mức vừa và nhỏ. Vàng cũng đã được phát hiện ở Yên Bái, vàng gốc được phát hiện chủ yếu ở Trạm Tấu, Mù Cang Chải, vàng sa khoáng phát hiện ở nhiều nơi gần các sông suối.

Khoáng sản đồng trên địa bàn tỉnh Yên Bái được phát hiện ở xã Phong Dụ Thượng và xã Châu Quế Hạ, huyện Văn Yên (là các điểm mỏ Làng Phát, Làng Nhón, Làng Lòm…); ở huyện Văn Chấn (là các điểm An Lương, Đông An thuộc xã An Lương; điểm Bản Bam thuộc xã Nậm Lành) …

- Khoáng sản không kim loại: chủ yếu gồm pyrit, barit, phosphorit, kaolin, felspat, thạch anh, grafit. Trong đó đáng chú ý là khoáng sản kaolin và felspat, hai khoáng sản này có chất lượng tương đối tốt đáp ứng được các tiêu chuẩn cho sản xuất gốm sứ, sản xuất giấy. Diện phân bố của chúng rộng tuy nhiên trữ lượng không lớn và không đồng đều. Các khoáng sản còn lại phân bố ở một vài nơi trong tỉnh nhưng chỉ tồn tại với trữ lượng nhỏ hoặc chất lượng thấp.

- Đá quý: tập trung ở khu vực Lục Yên, Tân Hương - Yên Bình với khoáng vật rubi, saphia, coridon ...

- Nguyên liệu mài: phân bố ở phần Đông Bắc hai bên bờ sông Chảy thuộc vùng đá biến chất cổ gồm: silimanit - granat. tập trung tại An Phú - Lục Yên, Báo Đáp, Đại Đồng - Yên Bình, Làn Nhơn - Phong Dụ Hạ. Các điểm quặng được đánh giá có triển vọng.

- Vật liệu xây dựng: gồm có đá vôi, đá hoa calcit, sét các loại, cát - sỏi lòng sông. Đặc biệt là nguồn cát sỏi lòng sông Hồng, sông Chảy...

+ Đá vôi và đá hoa calcit phân bố rộng khắp ở các huyện Lục Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Trạm Tấu có trữ lượng lớn. Hiện nay đã có một số mỏ khai thác ở quy mô công nghiệp. Đá vôi của Yên Bái có chất lượng tốt, khả năng khai thác làm đá mỹ nghệ, đá ốp lát, vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng và đá vôi làm khoáng chất công nghiệp phục vụ xuất khẩu.

+ Các mỏ sét, puzlan của tỉnh ngoài việc dùng sản xuất đồ gốm và gạch ngói, chất lượng mỏ sét còn đáp ứng được cho sản xuất xi măng.

- Nguyên liệu kỹ thuật: gồm các loại khoáng sản như granat, quarzit, dolomit ... hầu hết các loại khoáng sản này chưa được đánh giá trữ lượng.

- Khoáng sản talc - được phát hiện ở bản hát lìu, huyện Trạm Tấu - điểm mỏ chưa được điều tra đánh giá trữ lượng.

- Nước nóng và nước khoáng: Trong toàn tỉnh phát hiện có 16 điểm nước khoáng, nước nóng. Tập trung chủ yếu ở đá phun trào. Nước nóng có nhiệt độ 30 - 50oC. Tổng độ khoáng hoá 1 - 3,3g/l, nước thuộc nhóm sulfat canxi - magnhe có hàm lượng silic và lưu huỳnh cao, có thể sử dụng cho điều dưỡng, chữa bệnh.

* Trong các loại khoáng sản trên, có một số loại khoáng sản có trữ lượng tài nguyên dự báo tương đối lớn như:

- Quặng sắt gần 200 Triệu tấn, nhưng chất lượng quặng không cao (hàm lượng trung bình từ 20 – 40%) và phân bố rải rác tập trung chủ yếu tại các huyện Văn Chấn (khu vực làng Mỵ), huyện Trấn Yên (khu vực Làng Thảo, Núi Vi, núi 300), huyện Văn Yên.

Ngoài ra còn có vùng quặng sắt mới được phát hiện thuộc các xã Nghĩa Tâm, Minh An, Thượng Bằng La của huyện Văn Chấn.

- Đá ốp lát, mỹ nghệ: khoảng 1.300 triệu m3. Ngoài ra khu vực đá ốp lát, đá mỹ nghệ Suối Giàng - Văn Chấn, khu vực xã Làng Nhì và Tà Si Láng - Trạm Tấu, khu vực đá khối granit Ca Vịnh thuộc huyện Văn Chấn và huyện Trấn Yên được đánh giá là có triển vọng.

- Đá vôi xi măng và khoáng chất công nghiệp: khoảng 600 triệu m3.

- Đá vôi làm vật liệu xây dựng thông thường: khoảng 167 triệu m3.

- Kaolin, felspat: trên 15 triệu tấn, tập trung ở huyện Văn Yên và huyện Trấn Yên.

- Đất hiếm theo kết quả thăm dò của Công ty cổ phần Tập đoàn Thái Dương trữ lượng đất hiếm ở xã Yên Phú, huyện Văn Yên cấp 121 + 121 là 27.681 tấn (TR2O3).

Một số khoáng sản khác được đánh giá có chất lượng khá tốt như chì - kẽm nhưng phân bố rải rác trữ lượng ít và điều kiện khai thác khó khăn. Mới đây khu vực chì - kẽm Cẩm Nhân, Xuân Lai - Yên Bình đã được điều tra, đánh giá về địa chất và khoáng sản, các khu vực có triển vọng đã được bổ sung vào quy hoạch của cả nước.

2. Quy hoạch khoáng sản tỉnh Yên Bái

Để có cơ sở quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn, tỉnh Yên Bái đã hoàn thành và phê duyệt các quy hoạch sau:

- Quy hoạch phân vùng hoạt động khoáng sản tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006-2010, đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái khoá XVI, kỳ họp thứ 5 thông qua và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 02/3/2006;

- Quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến đá vôi trắng giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2015 huyện Lục Yên, đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái khoá XVI, kỳ họp thứ 7 thông qua và Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 325/QĐ-UBND ngày 12/9/2006;

- Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2007-2015, đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái thông qua và Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 532/QĐ-UBND ngày 07/4/2008;

- Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản sắt, đồng, vàng, chì - kẽm và các khoáng sản khác (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn), đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái thông qua và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 1459/QĐ-UBND ngày 30/9/2011.

3. Hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã có nhiều dự án đầu tư khai thác, chế biến khoáng sản của các tổ chức trong và ngoài tỉnh, các đơn vị liên doanh với nước ngoài. Nhìn chung, các dự án khai thác, chế biến khoáng sản bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án khai thác, chế biến đá vôi trắng trong thời gian gần đây đã góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của tỉnh và làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản còn có những nguy cơ như: gây tổn thất tài nguyên khoáng sản, gây tổn hại đến môi trường thiên nhiên...

Tính đến hết năm 2011, trên địa bàn tỉnh hiện có 53 giấy phép thăm dò (trong đó 04 giấy phép thăm dò còn hiệu lực) gồm: vật liệu xây dựng thông thường 30 giấy phép, đá vôi trắng 15 giấy phép, đất hiếm 01 giấy phép, quặng sắt 02 giấy phép, quặng đồng 02 giấy phép, mangan 01 giấy phép, đá gabro (làm ốp lát) 01 giấy phép. Và 205 giấy phép khai thác khoáng sản (117 giấy phép còn hiệu lực) của các loại khoáng sản như: vật liệu xây dựng thông thường 66 giấy phép, đá vôi trắng 30 giấy phép, Felspat 06 giấy phép, kaolin 04 giấy phép, thạch anh 06 giấy phép, Granit 02 giấy phép, sét làm xi măng 01 giấy phép, than 05 giấy phép, quặng sắt 59 giấy phép, quặng chì – kẽm 18 giấy phép, quặng đồng 01 giấy phép, Grafit 01 giấy phép, quặng vàng gốc 04 giấy phép, đá quý 02 giấy phép./.