Giới thiệu  

TÀI NGUYÊN NƯỚC

             

v      Nước mưa

Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình, hàng năm có lượng mưa bình quân trong toàn tỉnh là 1.864 mm với tổng lượng nước mưa là 13 tỷ m3 nhưng lượng nước mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian. Theo số liệu của cơ quan khí tượng thuỷ văn tỉnh thì tổng lượng mưa trung bình năm của 10 năm trở lại đây ở trạm Yên Bái là 17.517mm, ở trạm Lục Yên 18.042mm, ở Mù Cang Chải là 17.454mm.

- Về thời gian: Yên Bái có 2 mùa rõ rệt : 80% lượng nước mưa tập trung vào 4 tháng mùa mưa (từ tháng VI đến tháng IX) gây nên nhiều trận lũ lụt ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và đời sống nhân dân. Còn lại 20% tổng lượng nước mưa ở 8 tháng mùa khô (từ tháng X đến tháng V năm sau) nên không đáp ứng được nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt của đồng bào các dân tộc vùng cao.

- Về không gian: Yên Bái có nhiều tiểu vùng: Vùng có lượng mưa lớn nhất tỉnh là vùng hạ huyện Trấn Yên, điển hình là Minh Quân có lượng mưa lớn nhất là 2.634 mm/năm. Vùng có lượng mưa nhỏ nhất là thung lũng huyện Văn Yên điển hình là Trái Hút có lượng mưa nhỏ nhất là 975 mm/năm.

Do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm vào những tháng mùa khô lượng mưa trung bình chỉ đạt 52,5mm/tháng nên thường xảy ra tình trạng hạn hán, thiếu nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Nước mưa là nguồn nước quan trọng tại các vùng gặp khó khăn nguồn nước mặt, nước ngầm.

v      Nước mặt

Hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Chảy, đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy còn khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ cùng hệ thống hồ đầm.

+ Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chiều dài chảy qua tỉnh Yên Bái là 115 km. Các phụ lưu của sông Hồng trên địa phận Yên Bái, có tới 50 ngòi, có tổng diện tích lưu vực là 2.700 km2. Lớn nhất là ngòi Thia, diện tích lưu vực 1.570 km2, sau đó là ngòi Hút (632 km2), ngòi Lao (519 km2), Ngòi Lâu (250 km2)... Những con ngòi này, cùng với phụ lưu khe suối là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân.

+ Sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc), với 32 phụ lưu, diện tích lưu vực 2.200 km2  với lượng nước đổ vào trung bình là 5,3 tỷ m3 nước/năm, đoạn chảy qua địa phận Yên Bái có chiều dài 95 km, tại đây đã xây dựng hồ chứa nước Thác Bà, làm nguồn nước cho Nhà máy thuỷ điện Thác Bà Yên Bái. Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với diện tích 23.400 ha, bao gồm 19.050 ha diện tích mặt nước và 1.331 đồi đảo lớn nhỏ. Hồ có sức chứa 2,9 tỷ m³ nước là điều kiện để phát triển nguồn thuỷ sinh vật và là nguồn năng lượng phục vụ hoạt động của Nhà máy thuỷ điện Thác Bà - Công trình thuỷ điện đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam. Các phụ lưu của sông Chảy trên đất Yên Bái có tới 23 ngòi và tổng diện tích phụ lưu 1.350 km2.

+ Suối Nậm Kim có tổng diện tích lưu vực 600 km2 là chi nhánh hệ thống sông Đà, có độ dốc lớn nên có khả năng phát triển thuỷ điện.

+ Hệ thống ao hồ với diện tích 20.913 ha, là tiềm năng để phát triển các ngành du lịch và thuỷ sản.

v      Nước ngầm

Theo các tài liệu địa chất - thuỷ văn, nguồn nước ngầm và nước khoáng phân bố ở độ sâu 20 - 200 mét dưới lòng đất. Nước khoáng nóng phân bố chủ yếu ở vùng phía Tây thuộc các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu và thị xã Nghĩa Lộ, nhiệt độ trên 400C, hàm lượng khoáng hoá 1- 5 gam/lít, có khả năng chữa bệnh khi được xử lý độc tố.