Yên Bái – mảnh đất giàu tiềm năng phát triển
Tỉnh Yên Bái thuộc khu vực miền núi Bắc bộ nằm sâu trong lục địa. Lãnh thổ Yên Bái nằm trên toạ độ địa lý từ 21o 24’40” đến 22o 16’32” độ vĩ Bắc, từ 103o56’26” đến 105o03’07” độ kinh Đông, nằm trải dọc theo hai bờ sông Hồng và nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc và miền Đông Bắc, đồng thời cũng là khu vực chuyển tiếp giữa khu vực Tây Bắc với trung du Bắc Bộ.
Về phía Bắc, Yên Bái giáp với tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp với tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, còn phía Tây giáp với tỉnh Sơn La.
Trong hệ thống tự nhiên, tuỳ vào quan điểm phân chia mà vị trí của Yên Bái trong hệ thống này có những khác biệt. Về mặt kiến tạo, ranh giới giữa miền địa máng Tây Bắc với miền rìa nền Hoa Nam - Bắc Việt Nam là đứt gãy sông Hồng thì lãnh thổ Yên Bái nằm giữa hai đơn vị kiến tạo này. Về mặt vật liệu, lãnh thổ Yên Bái là khối thống nhất của vật liệu thuộc lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Chảy. Về mặt khí hậu, Yên Bái nằm trong hai vùng khí hậu Đông Bắc và Tây Bắc mà ranh giới chạy trên sườn Đông Bắc dãy núi Hoàng Liên Sơn trên độ cao 500 đến 600m so với mặt nước biển. Về mặt thuỷ văn, Yên Bái nằm trên hai lưu vực sông Hồng và sông Chảy, ranh giới là đường chia nước trên dãy núi Con Voi. Trong cảnh quan, có tài liệu lấy ranh giới giữa Đông Bắc và Tây Bắc theo thung lũng sông Hồng (Phân vùng địa lý tự nhiên miền Bắc Việt Nam), hoặc theo đường chia nước của dãy Hoàng Liên Sơn (Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam), hoặc theo đường đồng mức 500 đến 600m trên sườn Đông Bắc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Nhưng cho dù hệ thống phân chia thế nào thì Yên Bái vẫn nằm trên khu vực chuyển tiếp của hai miền tự nhiên Đông Bắc - đồng bằng Bắc bộ với Tây Bắc - Bắc Trung bộ và hai khu tự nhiên Đông Bắc và Tây Bắc. Về mặt nhân văn, đây cũng là địa bàn trung chuyển từ các quần cư vùng thấp của các cộng đồng Tày – Nùng đặc trưng ở Đông Bắc sang các quần cư của các cộng đồng Mường – Thái đặc trưng của Tây Bắc.
Tuy nằm sâu trong nội địa nhưng Yên Bái lại là đầu mối và trung độ của một sồ tuyến giao thông quan trọng, là một trong những cửa ngõ thông thương giữa Đông Bắc và Tây Bắc. Hệ thống giao thông của tỉnh Yên Bái hết sức thuận lợi với cả đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không bao gồm 4650 km đường bộ với 4 tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn, 11 tuyến tỉnh lộ, tất cả các xã đều có đường ô tô đến trung tâm, đường thủy có 115 km sông Hồng, trên 80 km Hồ Thác Bà và đường sắt là tuyến Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai nối liền với thành phố Côn Minh – Trung Quốc. Hiện nay, tuyến đường cao tốc Hà Nội – Yên Bái - Lào Cai nằm trong hành lang đường bộ Hải Phòng – Côn Minh – Trung Quốc thiết kế với vận tốc 80 đến 100km/giờ đang được xây dựng. Trong tương lai không xa, sân bay Nga Quán cũng sẽ có đường băng dân dụng phục vụ vận tải hàng không.
Tỉnh Yên Bái có diện tích tự nhiên gần 6.888 km2 với dân số trên 780.000 người, đứng thứ 20 về diện tích, thứ 50 về dân số trong số tổng số 63 tỉnh thành của cả nước. Yên Bái có 01 thành phố và 01 thị xã, trong 7 huyện có 2 huyện vùng cao là Trạm Tấu và Mù Cang Chải, 3 huyện có nhiều xã vùng cao là Văn Chấn, Văn Yên và Lục Yên, 2 huyện vùng thấp là Trấn Yên và Yên Bình. Về mặt hành chính, toàn tỉnh Yên Bái có 159 xã, 10 thị trấn và 11 phường.
Đặc điểm địa hình
Địa hình Yên Bái tương đối phức tạp, là một phần tiếp giáp giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, đồng thời là vùng chuyển tiếp từ địa hình vùng trung du Phú Thọ lên vùng cao Lào Cai. Bên cạnh đó, địa hình Yên Bái còn nằm trên hai vùng có lịch sử phát triển địa chất khác biệt hình thành nên các dạng địa hình khác nhau. Địa hình Yên Bái cao dần từ Đông sang Tây và từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất ở xã Minh Quân với độ cao khoảng 20m, còn cao nhất là đỉnh Pú Luông là 2.985m so với mực nước biển.
Trên 70% diện tích tự nhiên của Yên Bái là địa hình núi cao và cao nguyên nằm trong ba hệ thống:
Hệ thống núi Hoàng Liên Sơn bao chiếm toàn bộ diện tích phía hữu ngạn sông Hồng thuộc phức hệ Hoàng Liên Sơn chịu ảnh hưởng rất nhiều của các đợt vận động kiến tạo nên địa hình hệ thống núi này có độ cao lớn nhất nước ta và bị cắt xẻ khá mãnh liệt. Trên địa phận Yên Bái, hệ thống núi này là các dải núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Tả ngạn sông Hồng thuộc cấu trúc rìa phía Nam khối vòm sông Chảy (dãy núi Con Voi), hình thành giữa hai đứt gãy của sông Hồng và sông Chảy, phát triển trên một nền vật chất là nền đá cổ kết tinh diệp thạch sét, diệp thạch mica, gơnai. Độ cao của dãy núi này từ 400 đến 1.400m.
Phần phía Đông của tỉnh là khu vực không chịu ảnh hưởng của các hoạt động tân kiến tạo nên hình thành các dạng địa hình đồi bát úp đỉnh tròn, sườn thoải mái thấp dần theo hướng Đông Nam.
Giữa hai dãy Hoàng Liên Sơn và Con Voi là thung lũng sông Hồng, giữa dãy Con Voi và các đồi thấp phía Đông là thung lũng sông Chảy đã được ngăn sông đắp đập thành một hồ lớn - hồ Thác Bà với Thủy điện Thác Bà – đứa con đầu lòng của ngành Thủy điện Việt Nam, 19.050 ha mặt nước, trên 1300 hòn đảo lớn nhỏ tạo thành một cảnh quan nhân tạo đặc sắc của Yên Bái ngày nay.
Khí hậu, thời tiết
Lãnh thổ Yên Bái với đặc điểm của nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng bên cạnh đó yếu tố địa hình cũng làm thay đổi và biến tính một phần nào đấy sự khác biệt với những vùng lân cận. Điều này thể hiện rõ nét khi mà Yên Bái nằm trên ranh giới của hai khu vực khí hậu khác nhau (Đông Bắc và Tây Bắc).
Các hoàn lưu khí quyển hoạt động trên lãnh thổ gồm:
Gió mùa đông bắc hình thành vào thời kỳ áp cao Xibia hoạt động mạnh, khối không khí lạnh từ Bắc Á di chuyển xuống phía Nam Việt Nam, biến tính giảm dần cường độ lạnh vì phải di chuyển trên một bề mặt địa hình tương đối phức tạp. Cho nên khi đợt không khí lạnh từ Bắc Á tràn xuống với hướng gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông Bắc, tạo nên một mùa đông cho khu vực Yên Bái. Riêng các huyện vùng cao phía Tây như Mù Cang Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu do địa hình núi cao, thung lũng sâu nên khu vực này có mùa đông lạnh, những quan trắc cho thấy một số nơi thuộc khu vực Mù Cang Chải đôi khi có tuyết rơi. Tính chất địa phương thể hiện rõ nét và tình hình bức xạ nhiệt ngày đêm tại vùng núi nhất làm cho ban đêm nhiệt độ xuống rất thấp.
Vào mùa đông khối áp cao đôi khi có sự dịch chuyển dần về phía Tây nên xen kẽ những ngày lạnh giá là những ngày nắng ấm. Sự dịch chuyển qua lại của hai khối không khí lạnh giá của áp cao Xibia và khối không khí ấm Tây Nam Thái Bình Dương đã làm cho Yên Bái có một mùa đông không quá lạnh. Không khí lạnh về xung đột với các không khí khác thường gây nên những đợt mưa dông vào đầu đông hoặc cuối xuân. Nhiều năm khối không khí lạnh thường tràn về vào tháng III khiến cho Yên Bái có một mùa đông kéo dài.
Ảnh hưởng của áp thấp xích đạo kèm theo gió mùa Tây Nam đưa đến Yên Bái một mùa hè nóng ẩm và không khí mang nhiều hơi nước. Bên cạnh đó dải hội tụ nhiệt đới thường di chuyển qua khu vực Yên Bái có nhiều mưa. Tại những nơi thuộc sườn đón gió dãy Hoàng Liên Sơn lượng mưa tương đối nhiều và lượng mưa ở miền Tây thường ít hơn miền Đông.
Tài nguyên khoáng sản
Yên Bái là lãnh thổ có các thành tạo địa chất cổ xưa, được hình thành và kéo dài từ thời kỳ tiền Cambri đến kỷ đệ Tam, đệ Tứ. Rõ nhất là các khối đá cổ kéo dài dọc theo đới đứt gẫy sông Hồng và dọc theo dãy núi Con Voi phân thành hai dải dọc theo hai bờ sông Chảy. Còn các loại đất đá tân sinh với độ tuổi khoảng 50 triệu năm phân bố dọc sông Hồng, sông Lô.
Những tác động của quá trình nội sinh và ngoại sinh trên khu vực đã tạo cho Yên Bái có một tiềm năng khoáng sản vô cùng phong phú về thành phần cũng như số lượng. Hình thành nên những mỏ nội sinh và ngoại sinh với trữ lượng không lớn nhưng lại đa dạng về thành phần. Hiện nay, toàn tỉnh có 257 mỏ, điểm mỏ khoáng sản đã và đang được đưa vào khai thác tập trung ở những dạng sau:
- Nhóm năng lượng
+ Than đá được khai thác ở mỏ Hoàng Thắng – Quy Mông (huyện Trấn Yên) với trữ lượng 212.980 tấn, Suối Quyền (huyện Văn Chấn).
+ Than nâu Hồng Quang (huyện Lục Yên) với trữ lượng 16.000 tấn.
+ Than bùn Phù Nham – xã Phù Nham (huyện Văn Chấn), cấu tạo mỏ gồm hai lớp: Lớp 1 dài 820m rộng 300m, dày 0,3 ¸ 1,3m, lớp than bùn có chiều dày 0,5 ¸ 1,5m. Tổng trữ lượng ước tính 104.000 tấn. Tại đây điều kiện giao thông tương đối thuận lợi trong quá trình khai thác. Ngoài ra các vỉa than nâu, than lửa dài phân bố ven sông Hồng, sông Chảy.
- Nhóm vật liệu xây dựng
Phân bố rộng rãi toàn thành phố Yên Bái, nhưng nhìn chung cát, sỏi được khai thác chủ yếu dọc ven sông Hồng, sông Chảy. Đá vôi được khai thác ở Mông Sơn (huyện Yên Bình), đá ốp lát ở Tân Lĩnh (huyện Lục Yên) với trữ lượng 270 triệu m3, đá vôi dùng để sản xuất xi măng ở Mỹ Gia, Mông Sơn, Phúc Ninh (huyện Yên Bình) với trữ lượng 250 triệu m3. Ngoài ra, đá vôi còn được khai thác ở Đồng Khê (huyện Văn Chấn), đất sét ở Bái Dương xã Tuy Lộc, (huyện Trấn Yên), Đại Minh (huyện Yên Bình).
- Nhóm khoáng chất công nghiệp
Tương đối đa dạng về chủng loại từ nguyên liệu làm phân bón, hoá chất cho đến các nguyên liệu kỹ thuật như Cao lanh (được thấy nhiều ở thành phố Yên Bái với tổng số 894.870 tấn). Đất sét ở thành phố Yên Bái gồm: Xuân Lan với trữ lượng 3.795.000m3, Nam Cường 1.260.000 m3, Bái Dương 546.900 m3, đất hiếm phân bố ở Yên Phú với trữ lượng 17.847 tấn.
- Nhóm kim loại
Có đầy đủ các loại từ kim loại đen là sắt ở Sùng Đô, Làng Mỵ (huyện Văn Chấn) với trữ lượng vài chục triệu tấn và phân bố thành cụm ở Hưng Khánh, Kiên Thành, Việt Hồng (huyện Trấn Yên) với trữ lượng 92,2 triệu tấn. Kim loại màu như chì, kẽm ở Tú Lệ (huyện Văn Chấn), Mỹ Gia, Cảm Nhân (huyện Yên Bình) với trữ lượng 100.000 tấn và ở huyện Trạm Tấu. Các kim loại quý hiếm như vàng có ở Xuân Ái (huyện Văn Yên), Kiên Thành (huyện Trấn Yên); mỏ bạc ở Tú Lệ (huyện Văn Chấn) cùng với các mỏ đá quý tạo dải kéo dài ở phía Bắc và phía Tây hồ Thác Bà bao gồm Rubi, Safier, Tuamalin, Thạch Anh với khối lượng ước đoán không dưới 400 kg và 3 triệu m3 quặng vàng, Prit, Galen tại đây.
- Nhóm nước khoáng
Phân bố chủ yếu ở phía Tây tỉnh Yên Bái thuộc địa bàn các huyện Văn Chấn, Trạm Tấu:
+ Nước khoáng nóng Bản Bon (xã Sơn A huyện Văn Chấn) được đưa lên bề mặt đất qua nền đá gốc là đá vôi, kèm theo nhiều bọt khí, nhiệt độ nguồn nước đạt 450C, nước trong suốt, không màu, thoảng mùi H2S với độ PH = 6,7 cặn khô 2590 mg/lít, kiểu nước Sunfat Canxi có độ khoáng hoá thấp M = 211,8 mg/lít, hàm lượng Si cao H2SiO3 = 51 mg/lít, hàm lượng Lưu huỳnh đạt 0,018 mg/lít, Br2 = 0,15 mg/lít, I2 = 0,0667 mg/lít.
+ Nước khoáng nóng xã Phù Nham (huyện Văn Chấn) được phun lên từ mỏ than bùn, diện tích 15x15m. Kết quả phân tích cho thấy: Nhiệt độ nguồn nước đạt 380C lưu lượng 0,8m/s. Độ PH = 7,3 cặn khô 2.800 mg/lít, kiểu nước Sunfat Canxi có độ khoáng hoá thấp M = 2.115,8 mg/lít, hàm lượng Si không cao H2SiO3 = 51 mg/lít, Br2 = 0,15 mg/lít, I2 = 0,0667 mg/lít.
+ Nước khoáng nóng Rừng Si (thị trấn nông trường Nghĩa Lộ), diện tích 2m2. Kết quả phân tích cho thấy: nhiệt độ nguồn nước đạt 410C, độ PH = 8 cặn khô 2.920 mg/lít, kiểu nước Sunfat – Canxi – Manhê, có độ khoáng hoá M = 2.750,8 mg/lít, hàm lượng H2SiO3 = 3 mg/lít.
Điểm nước khoáng nóng Bản Bon đã được đưa vào sử dụng rộng rãi. Các điểm còn lại đang tiếp tục nghiên cứu điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng để khai thác phục vụ phát triển tiềm năng du lịch cũng như phục vụ cho sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa.
Tài nguyên đất, rừng
Trong tổng số diện tích tự nhiên trên 6888 km2, tỉnh Yên Bái có 549.104,31 ha đất nông nghiệp, 47.906,46 ha đất phi nông nghiệp và còn 92.938,28 ha đất chưa sử dụng.
Diện tích đất nông nghiệp phân chia không đồng đều giữa các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh: tập trung ở một số huyện dọc theo hai bờ sông Hồng và sông Chảy như các huyện Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình, Lục Yên và đặc biệt là cánh đồng Mường Lò - cánh đồng lớn thứ hai trong khu vực Tây Bắc. Tại những nơi có độ cao địa hình lớn như khu vực Mù Cang Chải và Trạm Tấu diện tích nông nghiệp ít, phân tán nhỏ chủ yếu dọc theo thung lũng, khe suối.
Đất đai của Yên Bái rất thích hợp cho trồng rừng kinh tế, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, cây dược liệu và cây lương thực. Do địa hình, khí hậu thuận lợi nên tài nguyên rừng của tỉnh Yên Bái phong phú, đa dạng bao gồm rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và rừng ôn đới núi cao. Hiện nay, diện tích đất có rừng là gần 300.000 ha trong đó có 194.000 ha rừng tự nhiên với nhiều loại cây quý hiếm như pơ mu, đinh, lim, sến, táu… 105.000 ha rừng trồng hàng năm cho phép khai thác 200.000 m3 gỗ các loại, hàng chục nghìn tấn nguyên liệu sợi dài phục vụ công nghiệp chế biến gỗ, giấy, ván dăm. Bên cạnh đó, tỉnh Yên Bái đã xây dựng được các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến nông – lâm sản gồm vùng chè 13.000 ha trong đó có diện tích chè tuyết Shan cổ thụ; vùng chè chất lượng cao Bát Tiên, Phúc Vân Tiên; vùng chè giống mới LDP1,LDP2 và các giống chè đặc sản khác. Hiện nay, toàn tỉnh có trên 30 nghìn ha quế tập trung ở hai huyện Văn Yên, Trấn Yên được đánh giá là có hàm lượng tinh dầu cao nhất trong khu vực Tây Bắc, đã phát triển được vùng tre măng Bát Độ trên 1000 ha và vùng cây ăn quả, vùng lúa chất lượng cao ở hầu hết các địa phương. Ngoài ra, tỉnh Yên Bái còn có trên 2000 ha đồng cỏ và một diện tích lớn thảm cỏ dưới tán rừng, vườn rừng để phát triển chăn nuôi đặc biệt là đàn gia súc như trâu, bò, ngựa, dê.
Tài nguyên nước
Do điều kiện địa hình tương đối phức tạp và mức độ chia cắt của địa hình lớn nên khu vực Yên Bái hình thành mạng sông suối vô cùng dày đặc và phức tạp. Hệ thống sông suối được hình thành chủ yếu từ ba lưu vực chính: lưu vực sông Hồng, sông Chảy, ngòi Thia và vùng hồ Thác Bà được hình thành do xây dựng công trình thuỷ điện Thác Bà.
Đặc điểm các lưu vực sông chính:
Sông Hồng: bắt nguồn từ dãy núi Nguỵ Sơn tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cao 1766m chảy qua Yên Bái theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Toàn lưu vực trải dài trên 1.149 km và kéo dài trên 100 km tại khu vực Yên Bái. Với tổng diện tích toàn lưu vực sông Hồng 145.965 km2, trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 70.722 km2. Các chi lưu sông Hồng đều ở phía hữu ngạn sông Hồng và bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông như ngòi Thia, Ngòi Bo, Ngòi Phát...
Sông Chảy: là một phụ lưu lớn của sông Lô còn có tên là sông Trôi hoặc sông Đạo Ngạn bắt nguồn từ phía tây dãy núi Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang cao 2410m, dòng sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam đi qua các huyện Lục Yên, Yên Bình nhập vào sông Lô. Tổng chiều dài dòng sông 319km, diện tích lưu vực 6500km2. Tổng chiều dài sông đi qua khu vực Yên Bái với 87km, môđun dòng chảy bình quân là 30,5 lít/giây/km2. Mực nước bình quân đo tại trạm Long Phúc là 67,95m (năm 1998). Lòng sông hẹp, lắm ghềnh thác, có nhiều nơi đá nổi giữa dòng.
Ngòi Thia: phụ lưu cấp 1 lớn nhất của sông Hồng, bắt nguồn từ núi Pú Luông (Trạm Tấu) với chiều dài 165 km. Độ cao bình quân của lưu vực ngòi Thia tới 907m. Với độ chênh lệch lưu lượng giữa mùa lũ và mùa cạn lên tới 480 lần. Đây là yếu tố gây bất lợi cho khai thác tiềm năng nước mặt của những vùng mà ngòi Thia đia qua. Thông thường mùa lũ bắt đầu từ tháng VIII ¸ X, ba tháng VIII, IX, X lưu lượng chảy chiếm 52% cả năm riêng tháng IX chiếm 22,1%.
Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Yên Bái còn có 5 ngòi khác: Ngòi Hút dài 140 km với diện tích lưu vực 632km2, Ngòi Kim diện tích lưu vực 600km2, Ngòi Lao 519km2, Ngòi Lâu 250km2, Ngòi Chùa 100km2 đổ vào sông Hồng. Và các ngòi lớn khác như Ngòi Diệc, Ngòi Ràng, Ngòi Khe Đê, Ngòi Đại Cại, Ngòi Úc...
Hệ thống ao hồ: những ao hồ lớn chủ yếu tập trung ở các huyện Yên Bình, Lục Yên, Trấn Yên. Các đầm lớn phân bố ở các xã Giới Phiên, Hợp Minh (thành phố Yên Bái), Minh Quân (huyện Trấn Yên) có nguồn gốc dòng cũ sông Hồng. Dưới thời kỳ Neogen làm lắng đọng trầm tích, sông bị đổi dòng tạo nên các đầm hồ tự nhiên.
Bên cạnh đó còn có hệ thống sông nhân tạo do hình thành thuỷ điện Thác Bà, dòng sông Chảy bị ngăn lại, nối đôi bờ bởi đập nước lớn tại thị trấn Thác Bà hình thành nên hồ nhân tạo Thác Bà với diện tích mặt hồ 23.400 ha chiều dài 80km chỗ rộng nhất 15 km, độ sâu lòng hồ biến động từ 15 ¸ 34m, tổng lượng nước trong hồ lên tới 3,9 tỷ m3. Bên cạnh đó còn có hàng trăm suối nhỏ khác chứa một lượng phù sa vô cùng lớn chảy vào hồ Thác Bà.
Hình thành tại đây một hệ sinh thái lòng hồ vô cùng đa dạng với 130 loại cá tự nhiên có giá trị kinh tế cao. Hồ Thác Bà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh với việc cung cấp hàng năm một nguồn điện năng với công suất 120.000 KW và còn là điểm du lịch sinh thái khá phát triển trên một hệ sinh thái lòng hồ phong phú. Mặt khác hồ Thác Bà cũng góp một phần quan trọng trong việc điều tiết lưu lượng dòng chảy cân đối giữa mùa lũ và mùa cạn và làm cho mùa hè nhiệt độ giảm từ 1 ¸ 20C, tăng độ ẩm tuyệt đối vào mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700 ¸ 2000 mm/năm, tạo điều kiện cho thảm thực vật, quá trình canh tác, sản xuất của địa phương.
Văn hóa – du lịch
Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (huyện Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (huyện Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (huyện Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (huyện Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện, như đền, tháp, khu di tích lịch sử.
Được thiên nhiên ưu đãi và hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử, tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó dân tộc Kinh chiếm 45%, dân tộc Tày chiếm 17,3%, dân tộc Dao chiếm 9%, dân tộc Mông chiếm 8%, dân tộc Thái chiếm 6%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác.
Cùng với Thác Bà được mệnh danh là “Hạ Long trên núi”, Yên Bái còn có vùng đất ngọc Lục Yên nổi tiếng với những mỏ đá ru bi hồng ngọc vô giá, tạo nơi giao thương buôn bán sầm uất. Nơi này có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như quần thể di tích đền Đại Kại, bình nguyên xanh Khai Trung, thác Nậm Rù, hang Hùm, hang Diên, núi Vua Áo Đen.
Tại khu vực phía tây tỉnh Yên Bái, bên cạnh cánh đồng Mường Lò - vựa lúa lớn thứ hai của vùng Tây Bắc còn có những danh thắng độc đáo như khu du lịch Suối Giàng nằm trên độ cao gần 1.400m so với mặt biển, có những cây chè tuyết cổ thụ hàng trăm tuổi; suối nước nóng Bản Bon; di tích Căng – Đồn Nghĩa Lộ tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ thời chống Pháp…Tại đây còn có các lễ hội độc đáo như hội xòe, lễ hội hoa Ban gắn liền với chuyện tình nàng Ban và chàng Khum; lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Thái, Tày, Nùng; lễ hội Gàu Tào của đồng bào Mông cùng đặc sản hương nếp Tú Lệ, cá xỉnh nướng của dòng Nậm Thia và nhiều món ăn dân tộc độc đáo.
Yên Bái còn có các di tích nổi tiếng như: Chiến khu Vần, địa danh lịch sử, căn cứ địa chống Pháp của tướng Cờ đen Hoàng Tử Trung, cũng là nơi lập ra đội du kích Âu Cơ – tiền thân của lực lượng vũ trang Yên Bái ngày nay. Bến phà Âu Lâu lịch sử, nơi vận chuyển quân lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Yên Bái cũng mãi ghi trong sử sách tên tuổi nhà chí sỹ yêu nước Nguyễn Thái Học với cuộc khởi nghĩa Yên Bái mà câu nói nổi tiếng: “Không thành công cũng thành nhân” lắng đọng lòng người. Bên cạnh các di tích lịch sử, trên địa bàn tỉnh còn có các đền chùa nổi tiếng là chùa Ngọc Am, các đền: Tuần Quán, Đông Cuông, Nhược Sơn, Đại Kại, Nam Cường…
Đơn vị hành chính
Tỉnh Yên Bái có 9 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: thành phố Yên Bái; thị xã Nghĩa Lộ; các huyện: Yên Bình, Lục Yên, Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu, Mù Cang Chải. Toàn tỉnh có 180 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 11 phường, 10 thị trấn và 159 xã.
Với tiềm năng thế mạnh sẵn có, tỉnh Yên Bái đã và đang phát huy nội lực đồng thời có chính sách khuyến khích mở rộng, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với địa phương để góp sức xây dựng tỉnh tiếp tục phát triển trên con đường đổi mới và hội nhập./.
v Yên Bái - mảnh đất giàu truyền thống
v Địa danh, địa giới Yên Bái qua các thời kỳ
v Yên Bái - nơi hội tụ của đồng bào các dân tộc
v Trang chủ dư địa chí Yên Bái