DÂN TỘC KHƠ MÚ

Người Khơ Mú ở Yên Bái có rất ít, khoảng 1.100 người sinh sống tập trung tại xã Nghĩa Sơn – Huyện Văn Chấn, chiếm 97% dân số toàn xã.
Địa hình cư trú người Khơ Mú ở Nghĩa Sơn chủ yếu là núi cao, đất dốc, ít có nơi phù hợp để khai phá làm ruộng nước. Đồng bào sống chủ yếu bằng nương rẫy, mới khai phá và trồng thêm lúa nước từ năm 1960 trở lại đây.
Dân tộc Khơ Mú gắn bó với nương rẫy, từ kinh tế nương rẫy truyền thống mà dân tộc Khơ Mú đã đúc kết cho mình kinh nghiệm sản xuất canh tác, dựa vào trời mây, con vật di chuyển để đoán biết thời tiết. Đồng thời trồng lúa nương, lúa nếp, lúa tẻ, trồng ngô, khoai, sắn, bầu bí.
Trang phục của người Khơ Mú Yên Bái chịu ảnh hưởng nhiều trang phục của người Thái Đen. Khăn phiêu, áo cỏm đen, xài ẻo, váy bằng vải đen, hàng mắc pém hình khối chữ nhật đối diện. Riêng ngực áo Cỏm, dọc hai bên mắc pém có bộ giải hình mặt trời tròn và hình mặt trời khuyết, ở giữa giải có đính những đồng tiền bạc thể hiện sự mong ước giàu sang phồn thịnh luôn được vị thần mặt trời sưởi ấm, che chở.
Người Khơ Mú ở nhà sàn, thường làm ba gian trên diện tích đất chênh vênh chật hẹp, có phần sơ sài, vật dụng trong nhà cũng xếp đặt tùy theo thói quen không cầu toàn. Điều đáng chú ý nhất là trong nhà có ba chiếc bếp, bếp ở gian thứ hai nấu nướng thông thường, bếp giáp hàng cột cái của vì cột thứ ba để đặt lễ thờ cúng, gọi là bếp cúng và bếp trong cùng chỉ để xôi cơm nếu rượu biểu thị sự no đủ sung túc. Khách lạ không nên đến hai bếp này vì theo quan niệm của đồng bào, dễ đem điều rủi ro đến cho chủ nhà.
Vết tích tô tem giáo còn thể hiện khá rõ nét ở người Khơ Mú. Dòng họ của người Khơ Mú đều mang tên một loài vật hoặc cỏ cây, cả dòng họ phải kiêng ăn loài đó.
Quan hệ hôn nhân được chú trọng. Khi hai bên cha mẹ bằng lòng gả con cho nhau thì đôi trai gái được tự mình quyết định cuối cùng. Nếu đôi lứa không tự nguyện thì cha mẹ, dòng họ cũng không ép buộc. Nhờ vậy gia đình trẻ Khơ Mú sống gắn bó hạnh phúc, không mấy khi xảy ra bất hòa.
Do tập quán sản xuất nương rẫy nên từ lâu đời nay, đồng bào Khơ Mú nói chung và người Khơ Mú ở Yên Bái nói riêng cho rằng hành động trong đời sống hàng ngày đều do các thế lực siêu nhiên chi phối do đó họ dựa vào siêu nhiên để chống lại siêu nhiên. Sau mỗi vụ thu lúa nương, gia đình làm lễ “ đón mẹ lúa” (Gr[ mạ ngọ) bao giờ cũng làm thủ tục tạ ơn con trâu, cái rìu, cái cuốc,... trước khi gia đình ngồi vào mâm cơm cỗ.
Người Khơ Mú có tục lệ khi gia đình có người chết thì con rể hay cháu rể gốc có hiểu biết, có uy tín chủ trì tang lễ. Lễ tang mang những nét riêng: Không đánh trống thổi kèn mà thỉnh thoảng gõ một tiếng chiêng, khi đưa tang lấy tro bếp rắc sau quan tài để xua đuổi ma xấu. Sau ngày đưa tang, các con trai lên nương rẫy “ chia” đất nương và thóc giống cho người chết, mảnh nương rẫy ấy sẽ phải bỏ hoang sau một năm mới được làm lại.
Dân tộc Khơ Mú trước cách mạng tháng Tám sống rất khổ sở, suốt đời chỉ đi làm phu phen, nô dịch cho bọn phìa, tạo, thống lý của các dân tộc khác. Sau cách nạng, đồng bào mới được tự do làm ăn, không bị áp bức, bóc lột. Đồng bào Khơ Mú có truyền thống yêu nước. Trong những năm tháng đánh giặc cứu nước. Đồng bào Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn đã thành lập đội du kích thu hút nhiều người tham gia, bảo vệ làng bản. Nghĩa Sơn đã nhiều lần tiễn những người con ưu tú ra chiến trường góp phần đánh giặc cứu nước lập nhiều chiến công.
Ngày nay đồng bào Khơ Mú đang nỗ lực vươn lên xóa đói giảm nghèo, làm giàu trên mảnh đất quê hương Yên Bái.