DÂN TỘC THÁI

Dân tộc Thái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số tỉnh Yên Bái 4 huyện thị phía Tây: Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ, Trạm Tấu và Mù Cang Chải là nơi người Thái tập chung sinh sống. Ở Yên Bái, tên người Thái được dùng chính thức và phổ biến. Người Thái còn tự gọi mình là “ Táy”, “ Táy Khao” là Thái Trắng, “ Táy Đăm” là Thái Đen. Để phân biệt “ Táy Khao” và “ Táy Đăm” chủ yếu dựa trên trang phục áo cỏm(xửa cỏm) của phụ nữ. Áo cỏm người Thái trắng thường may bằng vải bông màu trắng, cổ xẻ chạy xuống theo hình chữ V. Còn áo cỏm Thái đen may bằng vải chàm đen, cổ áo đứng 3 phân ôm khít lấy cổ. Ngoài ra trong các ngày hội vui thiếu nữ Thái trắng thường đội khăn trắng hoặc nón Tát rộng vành, thiếu nữ Thái đen đội khăn piêu.
Cộng đồng người Thái sống tập trung thành bản mường ở các thung lũng lòng chảo, không cách xa nhau, thích nghi với sở trường trồng lúa nước, trồng bông, dệt vải thổ cẩm. Một phần nhờ có truyền thống văn minh lúa nước của người Thái mà Yên Bái có được cánh đồng nổi tiếng như cánh đồng Mường Lò, Tú Lệ hay Mường Than, Mường Tấc trước đây. Nghề thủ công truyền thống của đồng bào Thái là làm đệm bông lau, dệt vải thổ cẩm với những họa tiết hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ và có chất lượng tốt.
Người Thái Yên Bái ở nhà sàn, hai đầu hồi nhà có 2 “ khao cút: (theo nhiều nhà nghiên cứu thì “ khao cút” là sừng trâu). Trong nhà đáng chú ý là chiếc cột sàn hóng luông đặt bàn thờ ma hay tổ tiên(khô hóng). Nơi này chỉ có người chủ tham gia đình là nam giới được nằm. Hầu hết nhà sàn Thái lợp bằng giang, quanh nhà được rào bằng nan phiên tre nứa để quản lý chăn nuôi gia súc.
Một gia đình người Thái thường có 3 thế hệ chung sống đầm ấm, vợ chồng thủy chung, những ngày vui hoặc có khách quý mọi người cùng uống rượu, đặc biệt có rượu cần.Tục ở rể vẫn còn phổ biến, ở cho đến khi vợ chồng trẻ có con mới về nhà chồng. Lễ hỏi cưới được chuẩn bị từ nhiều tháng, nhà trai lo các lễ vật đi dạm hỏi, nhà gái lo đủ 3 bộ chăn đệm gánh về nhà trai trong ngày cưới. Trong đó có đủ chăn, đệm, gối gánh riêng cho bố mẹ chồng. Thiếu nữ Thái khi chưa lấy chồng thì búi tóc ngả phía sau, khi đã xây dựng gia đình thì tóc được búi thẳng đứng, gọi là “ tằng cẩu”. Lễ tằng cẩu diễn ra rất thiêng liêng xúc động ngay khi cô dâu về đến nhà chồng. Tằng cẩu được xem như một lời hứa hẹn thủy chung của đôi vợ chồng trẻ trước họ hàng, xã hội.
Người Thái thờ cúng tổ tiên, bản mường, trời đất, đồng bào quan niệm chết là tiếp tục sống ở thế giới bên kia nên đám ma là lễ tiễn đưa người chết về “ Mường trời”. Lễ tang của người Thái trắng diễn ra thông thường như các dân tộc khác là tiễn đưa người quá cố chôn cất sau khi mất. Còn người Thái đen thì tổ chức thiêu xác. Có nhiều nghi lễ thờ cúng đồng bào rất coi trọng như nghi lễ cầu mưa, lễ cầu phúc, lễ trồng cột mường, lễ hát “ một lao” (hát cúng chữa bệnh) đặc biệt là tết “ Sipsli” rằm tháng bảy.
Người Thái Yên Bái có vốn nghệ thuật dân gian rất phong phú. Dân ca được thể hiện bằng các làn điệu “ Khắp”, “ Then” trong các hội xuân, hát gọi người yêu, đám cưới, đám tang. Người Thái có các loại nhạc cụ dân tộc vẫn được lưu truyền như khèn bè và một số sáo rất độc đáo như “ Pí Tót” là loại sáo chỉ một lỗ, “ Pí Pặp” là sáo của tình yêu dùng để gọi nhau tâm tình, ...
Người Thái Yên Bái có những nét sinh hoạt văn hóa rất đặc trưng. Tắm suối cũng là tập quán lâu đời của đồng bào Thái nhất là đối với phụ nữ và thiếu nữ. Trang sức trang điểm rất được phụ nữ Thái chú ý, ngay từ nhỏ các bé gái đã được mẹ hướng dẫn thắt “ Xài ẻo” để lớn lên có cơ thể “ Eo kíu Meng Po” (thắt đáy lưng con tò vò). Thiếu nữ Thái đen chú ý đến khuôn mặt, mái tóc, hàng “ Mắc pém” trên ngực. Nam giới thì đơn giản hơn, họ ít bận tâm đến trang phục, ít tham gia vào cuộc múa xòe tập thể hay các trò chơi khác.
Sinh hoạt ẩm thực của đồng bào Thái không cầu kỳ, thời gian bữa ăn được sắp xếp phù hợp với công việc của vụ mùa đồng áng. Cá suối nướng, cơm xôi, măng ớt, măng chua, rau xôi, thịt chua,... là những món ăn được đồng bào ưa thích.
Với lịch sử cư trú lâu đời trên vùng đất Yên Bái, người Thái có truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm. Đồng bào Thái tự hào với nguồn gốc lịch sử dân tộc, với truyền thống đấu tranh anh dũng và tự hào là cư dân nông nghiệp có nền văn minh lúa nước lâu đời. Đồng bào đoàn kết với các dân tộc anh em vươn lên xóa đói, giảm nghèo góp phần đưa tỉnh Yên Bái trở thành tỉnh giàu mạnh.