Tình hình kinh tế - xã hội

 Tệp đính kèm

Báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội huyện Trạm Tấu năm 2011. Mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012

UỶ BAN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẠM TẤU

 

Số:  155 /BC-UBND

 

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                            Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

                 Trạm Tấu, ngày  28  tháng 12 năm 2011

 

BÁO CÁO

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội huyện Trạm Tấu năm 2011.

Mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012

(Báo cáo trình tại kỳ họp thứ 4 – HĐND huyện khóa XVI)

 


Năm 2011, dưới sự lãnh đạo của Thường trực Huyện ủy, phối hợp kiểm tra giám sát của Thường trực HĐND, chỉ đạo điều hành hợp lý hiệu quả của Thường trực Ủy ban nhân dân huyện; cùng với sự đoàn kết, cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trong toàn huyện, kinh tế của huyện tiếp tục phát triển ổn định, văn hóa - xã hội bước đầu có chuyển biến theo hướng chất lượng, hiệu quả, quốc phòng - an ninh được củng cố và ổn định. Đặc biệt là tổ chức thành công cuộc Bầu cử Quốc hội khóa 13 và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Ủy ban nhân dân huyện báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 18 - Hội đồng nhân dân huyện Trạm Tấu khóa XV và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 với những nội dung chủ yếu sau:

Phần I

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2011

­I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12,5%, đạt 104,2%, tăng 0,5% so với năm 2010, trong đó: Nông, lâm nghiệp 8,47%; Công nghiệp - Xây dựng tăng 20,72%; Thương mại - dịch vụ tăng 15,43%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch đúng hướng, trong đó nhóm nông lâm nghiệp chiếm 58,2%, giảm 2,05%; nhóm công nghiệp - xây dựng chiếm 21,5%, tăng 1,5%; nhóm dịch vụ chiếm 20,30%, tăng 0,55%.

Nghị quyết kỳ họp thứ 18 - Hội đồng nhân dân huyện khoá XV, đề ra 22 chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2011, trong đó có 7 chỉ tiêu về phát triển kinh tế, 15 chỉ tiêu về phát triển văn hóa – xã hội, xây dựng chính quyền, dự ước có 17 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, 4 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch và  01 chỉ tiêu đang thực hiện (các chỉ tiêu được so sánh so với: Chỉ tiêu kế hoạch Nghị quyết HĐND huyện và tăng, giảm được so sánh với năm 2010).

- Các chỉ tiêu về kinh tế đạt và vượt kế hoạch đề ra như: Thu nhập bình quân đầu người là 5,55 triệu đồng, đạt 100,9% kế hoạch, tăng 11%; Tổng sản lượng lương thực có hạt 15.094 tấn, đạt 102,1% KH, tăng 2.357 tấn; Đàn gia súc chính tăng bình quân 6,1% đạt 122%KH, tăng 1,1%; Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 7,424 tỷ đồng đạt 100,7% KH, tăng 83,4%; Tổng giá trị sản xuất CN-TTCN 36,2 tỷ đồng, đạt 100,6% KH, tăng 3,4%; Trồng rừng mới 1.155 ha (rừng phòng hộ 815 ha, rừng sản xuất 250 ha, trồng cây sơn tra 90 ha), đạt 110% KH.

            - Các chỉ tiêu về văn hoá xã hội đạt và vượt kế hoạch, như: Tỷ lệ đào tạo nghề cho nông dân đạt 15,84%, đạt 158,4% KH; Tạo việc làm mới cho 861 người, đạt 143,5% KH; Xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia 01 trường đạt 100% KH; Số xã, thị trấn chuẩn Quốc gia y tế 01 xã, đạt 100% KH, Tỷ lệ Bác sỹ/10.000 dân 4,2 Bác sỹ đạt 105% KH; Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng 29,5%, giảm 0,5% so với KH; Thôn, bản, khu phố các xã, thị trấn xây dựng quy ước, hương ước về nếp sống văn hoá mới 100%, đạt 200% KH; Số hộ gia đình đạt chuẩn văn hoá 55% đạt 100% KH, cơ quan đơn vị đạt chuẩn văn hoá 74% đạt 100% KH (thôn, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hoá 15,9% bằng 57,8% KH); Tỷ lệ hộ nghe đài 80% và xem truyền hình 50%, đạt 100% KH; Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh 70% đạt 100% KH; Cơ sở, chính quyền vững mạnh 70%, tỷ lệ gia đình cán bộ công chức các xã xây dựng công trình vệ sinh, chuồng trại 100%, đạt 100% KH đề ra.

- Các chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu đề ra là: Duy trì và đạt chuẩn PCTH đúng độ tuổi 6 xã, thị trấn bằng 50% KH; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 2,02% cao hơn so với kế hoạch 0,11%; Tỷ lệ hộ sử dụng điện 59,9%, bằng 93,6%KH; Giảm tỷ lệ hộ nghèo 77,3%, tăng 15,3% so với KH.

- Chỉ tiêu chưa đánh giá được là: Xây dựng nông thôn mới (do các xã đang trong giai đoạn quy hoạch tổng thể).

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2011

1. Về phát triển kinh tế, đạt được 6 kết quả nổi bật sau:

            (1). Kinh tế của huyện ổn định, phát triển và duy trì tốc độ tăng trưởng khá: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,5%, đạt 104,2%, tăng 0,5% so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch đúng hướng. Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,55 triệu đồng, tăng 11% so với năm 2010.

            (2). Tổng sản lương thực có hạt đều tăng so với năm 2010, trong đó tổng sản lượng thóc đạt 9.433,97 tấn tăng 1.358 tấn, sản lượng ngô đạt 5.660,1 tấn tăng 999,5 tấn, so với năm 2010. Do có sự chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, HĐND, Ủy ban nhân dân huyện trong việc chỉ đạo nhân dân tận dụng diện tích đất đồi, chuyển diện tích lúa nương kém hiệu quả sang trồng ngô hai vụ, nên trong năm diện tích cây ngô phát triển mạnh, tăng 403 ha so với cùng kỳ năm 2010.

           - Đầu năm do rét đậm rét hại kéo dài làm chết 1.213 con gia súc. Trong năm dịch LMLM làm chết và tiêu hủy 270 gia súc, huyện đã kịp thời chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn kịp thời xử lý và không để dịch bệnh lây lan trên diện rộng, trong những tháng cuối năm đàn gia súc phát triển tương đối ổn định, tổng đàn tăng trung bình năm 6,1% năm và tăng 1.353 con so với năm 2010.

          - Thực hiện tốt công tác giao khoán bảo vệ rừng, công tác chăm sóc rừng trồng các năm theo kế hoạch; trồng mới 1.155 ha rừng (rừng phòng hộ 815 ha, trồng rừng sản xuất 250ha, trồng cây Sơn tra 90ha) đạt 110% KH. Tổ chức rà soát 6.697,4 ha diện tích đất rừng phòng ít sung yếu dự kiến chuyển sang trồng rừng sản xuất. Không phát sinh các điểm nóng về khai thác rừng trái phép, công tác kiểm soát buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép được tăng cường, lâm sản tịch thu 65,253 m3 thu nộp ngân sách nhà nước 346.358.000 đồng.  

   (3). Sản xuất Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt giá trị 36,2 tỷ đồng đạt 100,5% kế hoạch, tăng 3,4% so với năm 2010, trong đó: Giá trị CN-TTCN của huyện là 3,5 tỷ đồng (đạt 100% KH tỉnh), Công nghiệp trung ương đóng trên địa bàn 32,7 tỷ đồng. Giá trị công nghiệp tăng mạnh do giá trị sản xuất của nhà máy thuỷ điện Nậm Đông. Triển khai 03 mô hình khuyến công với giá trị thực hiện là 67 triệu đồng.

            (4). Lĩnh vực đầu tư phát triển và xây dựng cơ bản được quan tâm chỉ đạo và đạt được nhiều kết quả tốt. Nhiều công trình xây dựng cơ bản được đầu tư từ các nguồn 30a, vốn trái phiếu Chính phủ, Chương trình 135 giai đoạn II, vốn xây dựng cơ bản.... đã được triển khai hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệp, cải thiện chất lượng trong lĩnh vực y tế, giáo dục... Tiến độ giải ngân các nguồn vốn luỹ kế tính đến ngày 20/12/2011 đạt 145,53 tỷ đồng, bằng 74,38% KH.

           (5). Hoạt động tài chính, ngân hàng và thương mại: Thu cân đối ngân sách tính đến ngày 23/12/2011 đạt 7,424 tỷ đồng, đạt 100,7%KH, tăng 83,4% so với năm 2010. Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ được triển khai quán triệt đến tất cả các cơ quan đơn vị. Chi ngân sách đạt 171,215 tỷ đồng, đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, chi các nhiệm vụ đột xuất phát sinh, chi phòng chống thiên tai dịch bệnh.

- Tổng vốn huy động tại 02 ngân hàng tính đến ngày 09/12/2011 là 45,07 tỷ đồng (tăng 10,4 tỷ đồng so với năm 2010); tổng dư nợ là 103,671 tỷ đồng (tăng 9,24 tỷ đồng so với năm 2010). Các khoản vay hỗ trợ lãi xuất được triển khai thực hiện tốt đã góp phần giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sản xuất, kinh doanh cho hộ nghèo; tạo điều kiện học tập tốt hơn cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện.

- Tình hình hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển, tổng giá trị bán lẻ hàng hoá trên địa bàn huyện cả năm ước đạt 45,452 tỷ đồng (tăng 29,5% so với năm 2010). Công tác phòng chống gian lận thương mại, bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được tăng cường thực hiện, nhất là đối với thị trường ở các xã.

(6). Quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường có tiến bộ; hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015. Hoàn thành công tác đo đạc, điểu chỉnh sắp xếp đất nông nghiệp tại 06 xã Bản Mù, Trạm Tấu, Bản Công, Phình Hồ, Xà Hồ, Túc Đán đảm bảo theo đúng các quy trình, quy định. Tiếp tục triển khai thực hiện dự án đo đạc, điểu chỉnh sắp xếp đất nông nghiệp tại 06 xã: Hát Lừu, Pá Lau, Pá Hu, Làng Nhì, Tà Xi Láng và Thị trấn Trạm Tấu đến nay về cơ bản các xã đã hoàn thành công tác đo đạc, bàn giao, công khai số liệu để triển khai các bước tiếp theo của dự án.

Công tác giao rừng, cho thuê rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, đang được thực hiện tại 9 xã: Trạm Tấu, Túc Đán, Làng Nhì, Phình Hồ, Tà Xi Láng, Pá Hu, Pá Lau, Hát Lừu và Bản Công, tiến độ thực hiện đang được triển khai theo trình tự các bước theo Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2006.

 2. Về văn hoá - xã hội, đạt được 5 kết quả nổi bật:

(1). Giáo dục - đào tạo bước đầu được củng cố theo hướng từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tổ chức thực hiện rà soát chất lượng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo Nghị quyết 39 của HĐND tỉnh. Hiện nay, toàn huyện có 31 trường, có 100% các trường học được giao thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Quyết định 13 của Ủy ban nhân dân tỉnh; thực hiện chuyển đổi 10 trường TH&THCS sang PTDTBT. Tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp bậc trung học phổ thông đạt 75,28%. Duy trì 12/12 xã, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS; phổ cập giáo dục tiểu học, trong đó duy trì 6 xã thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, đạt 100% so với năm 2010; tổng số trường đạt chuẩn quốc gia toàn huyện là 05, tăng 01 trường so với năm 2010.  

(2). Công tác y tế, dân số có tiến bộ, đã chủ động triển khai nhiều biện pháp tích cực để phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm theo mùa như sốt phát ban, tay chân miệng.... Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tổ chức khám bệnh cho trên 43.463 lượt người; điều trị nội trú cho 2.012 lượt bệnh nhân.

Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế thực hiện đúng kế hoạch. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm 2,35% so với cùng kỳ năm 2010; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 2,02% giảm 0,08% so với năm 2010. Trong năm, có 01 xã được công nhận đạt Chuẩn quốc gia về y tế xã, nâng tổng số xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế xã trong toàn huyện là 04 xã; đạt 4,2 Bác sỹ/10.000 dân.

(3). Lao động, việc làm, xoá đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội có nhiều cố gắng và đạt kết quả tích cực, tạo việc làm mới trong năm cho 861 lao động (xuất khẩu lao động đạt là 26 người). Số lao động được đào tạo nghề ngắn hạn, trung hạn trong năm 2011 tại Trung tâm dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp dạy nghề là 665 lao động (tăng 325 lao động so với năm 2010). Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện sau điều tra khảo sát hộ nghèo và cận nghèo năm 2011 là 77,3%. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách, dự án hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo, đặc biệt là theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, chính sách đặc thù của tỉnh và các chính sách an sinh xã hội khác.

(4). Các hoạt động văn hoá, thể thao, thông tin, truyền thông tiếp tục có sự đổi mới và từng bước nâng cao chất lượng. Tích cực đẩy mạnh các thông tin, tuyên truyền thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với tuyên truyền thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa 13 và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 và kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm.

Phong trào ‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng làng, bản, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị văn hoá được duy trì và có bước phát triển. Đến nay toàn huyện đã ra mắt, xây dựng được 25/69 thôn bản, tổ dân phố văn hóa; đã có 11/69 thôn bản, tổ dân phố được công nhận danh hiệu đạt văn hóa. Tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt đơn vị văn hóa 74%; số hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa đạt 55% (tăng 5% so với năm 2010). Thôn, bản, khu phố các xã, thị trấn xây dựng hương ước, quy ước về nếp sống văn hoá mới đạt 100% (tăng 50% so với NQ, tăng 45 % so với năm 2010).

 (5). Công tác tôn giáo, dân tộc: Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; các hoạt động về tôn giáo cơ bản đã tuân theo theo qui định của pháp luật, không xuất hiện những vấn đề phức tạp. Tuy nhiên, tình hình di dịch cư vẫn còn xảy ra, có 03 hộ với 17 khẩu, trong đó: 01 hộ với 05 khẩu xã Làng Nhì di cư sang thôn Giàng La Pán - xã Bản Mù, 01 hộ với 09 khẩu xã Phình Hồ và 01 hộ 04 khẩu xã Bản Mù di cư vào huyện Đắc Nông – Lâm Đồng. Hồi cư 01 hộ với 03 khẩu từ tỉnh Thanh Hoá về thôn Kháo Chu - Bản Công - Trạm Tấu.

3. Về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội:

- Tổ chức củng cố xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đạt 3,1% so với tổng dân số. Tuyển chọn và gọi 40 công dân nhập ngũ đạt 100% kế hoạch. Mở các lớp bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng – an ninh cho đối tượng 3, 4, 5 đạt kế hoạch đề ra. Tổ chức diễn tập chiến đấu trị an 02 xã, diễn tập PCCCR 01 xã Túc Đán, diện tập phòng chống lụt bão – TKCN 01 xã Phình Hồ. Tổ chức huấn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp cho lực lượng bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên.

- Tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, không xảy ra “điểm nóng” và các vụ việc phức tạp. Giữ vững và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trước, trong và sau bầu cử Quốc hội khóa 13 và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh; công tác phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội được tăng cường. Công tác điều tra, xử lý án hình sự có nhiều cố gắng, tỷ lệ điều tra khám phá án đạt cao; thực hiện nhiều giải pháp mạnh trong đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống ma tuý và đảm bảo an toàn giao thông.

- Công tác chống trồng cây thuốc phiện được đẩy mạnh trong niên vụ 2010 -2011, số diện tích tái trồng giảm so với niên vụ trước. Trong niên vụ 2011 - 2012 huyện đang tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng, các xã, theo dõi chặt chẽ các xã trọng điểm của huyện về trồng cây thuốc phiện.

- Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Trạm Tấu được quan tâm chỉ đạo, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Số đơn thư được giải quyết đạt tỉ lệ 100%, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

           4. Về xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng và nội chính:

- Về xây dựng chính quyền, cơ quan nhà nước: Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn, ổn định bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn sau bầu cử theo các quy định của Trung ương, của tỉnh; thành lập Trung tâm phát triển quỹ đất huyện. Triển khai khảo sát đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện và cơ sở; kiểm tra quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn.

- Xây dựng và tổ chức triển khai công tác cải cách hành chính năm 2011. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn trong việc thực hiện công tác cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước theo quy định.

- Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị kê khai tài sản, thu nhập lần đầu và kê khai bổ sung theo quy định. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng được triển khai toàn diện và tích cực hơn. Qua công tác kiểm tra, giám sát trong năm 2011 không phát hiện các vụ vi phạm về tham nhũng.

- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện thường xuyên được đẩy mạnh. Xây dựng và triển khai các kế hoạch về công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đạt hiệu quả. Công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu được thực hiện đúng pháp luật. Phối hợp với trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh, tiến hành nhiều đợt trợ giúp pháp lý tại các xã.

III.  HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN

1. Chỉ đạo, điều hành

- Chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình công tác trọng tâm năm 2011, cũng như xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện 05 Chương trình hành động của Huyện ủy; sớm tổ chức giao kế hoạch nhiệm vụ cho các ngành, các xã, thị trấn, đồng thời tập trung chỉ đạo triển khai toàn diện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.

- Chỉ đạo thực hiện tốt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội theo các chính sách, chương trình, dự án của Trung ương, của tỉnh. Chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhất là trong việc chuyển đổi diện tích lúa nương kém hiệu quả sang trồng ngô hai vụ. Tích cực chỉ đạo, giải quyết các vấn đề phát sinh, như chỉ đạo phòng chống rét cho đàn gia súc trong mùa đông và dịch lở mồm long móng trên địa bàn huyện.

- Duy trì chế độ làm việc theo Quy chế, phân công rõ nhiệm vụ cho các thành viên Uỷ ban nhân dân huyện, tiếp tục có sự đổi mới trong lãnh đạo điều hành, tăng cường kiểm tra và giải quyết, tháo gỡ khó khăn trực tiếp tại cơ sở; tăng cường phân cấp, giao nhiệm vụ cụ thể cho các  ngành, các xã, đi đôi với tăng cường kỷ cương, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, xử lý nghiêm minh đối với cán bộ, công chức vi phạm pháp luật.

- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân và xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Thực hiện mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp của nhân dân, từng bước phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của Uỷ ban MTTQ và các tổ chức đoàn thể. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, giảm thiểu các thủ tục hành chính; cắt bỏ các hội nghị, cuộc họp không thật sự cần thiết; cải tiến nội dung và điều hành các hội nghị, các phiên họp thành viên Uỷ ban nhân dân huyện mở rộng; tăng cường kiểm tra, tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn.

2. Phối hợp công tác với các cơ quan liên quan

Thường xuyên giữ mối quan hệ công tác với Thường trực HĐND, Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo Quy chế phối hợp và các quy định hiện hành của Nhà nước, đảm bảo chặt chẽ, có sự thống nhất cao và nâng cao hiệu quả công tác, góp phần tăng thêm hiệu quả điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng trên địa bàn huyện.

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Năm 2011, các cấp các ngành đã triển khai thực hiện có kết quả các giải pháp chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội huyện năm 2011, đã tập trung tổ chức thực hiện tốt Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của chính phủ và đạt được kiết quả bước đầu, tiết kiệm 10% chi thường xuyên theo chỉ đạo của Chính phủ; đồng thời tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp hỗ trợ sản xuất, bảo đảm an sinh xã hội nền kinh tế của huyện vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá so với năm 2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 12,5% đạt kế hoạch, trong đó có nhiều chỉ tiêu đạt cao như sản lượng lương thực; diện tích lúa, ngô, thu ngân sách trên địa bàn, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp...; Mặt khác nhiều dự án đầu tư bước đầu phát huy hiệu quả thiết thực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, kỷ niệm các ngày lễ lớn diễn ra sôi nổi; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hệ thống chính trị được tăng cường củng cố...

Tuy nhiên, sức ép tăng giá cả hàng hoá và nguy cơ lạm phát tăng cao; thời tiết rét đậm rét hại kéo dài, dịch bệnh phát sinh trên đàn gia súc, tiến độ thi công và giải ngân các công trình, dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước còn chậm; khó khăn trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng...là những khó khăn không nhỏ đối với sự phát triển chung của huyện năm 2011.

Phần II

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

 

Căn cứ vào Chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV, chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao và căn cứ vào tình hình thực tế trên địa bàn huyện, Uỷ ban nhân dân huyện xác định mục tiêu tổng quát, giải pháp chính, các chỉ tiêu chủ yếu và nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch năm 2012 như sau:

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2011, chú trọng chất lượng tăng trưởng, huy động tổng hợp mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích; triển khai có hiệu quả công tác văn hóa – xã hội, thực hiện chất lượng an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện một bước đời sống nhân dân. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch năm 2012.

II. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH NĂM 2012

1. Các chỉ tiêu về kinh tế (10 chỉ tiêu)

(1). Tốc độ tăng trưởng kinh tế 13%.

(2). Thu nhập bình quân đầu người đạt 6 triệu đồng trở lên.

(3). Tổng sản lượng lương thực có hạt là 17.661 tấn.

(4). Tổng đàn gia súc chính tăng bình quân: 5%.

(5). Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện 8,3 tỷ đồng.

(6). Tổng giá trị sản xuất CN – TTCN 51,7 tỷ đồng trở lên.

(7). Bảo vệ rừng 32.981 ha.

(8). Trồng rừng sản xuất 500 ha.

(9). Tỷ lệ độ che phủ rừng 55,2%.

(10). Tỷ lệ hộ gia đình chăn nuôi có chuồng trại nuôi nhốt gia súc và dự trữ rơm khô cho gia súc 70%

2. Các chỉ tiêu về Văn hoá xã hội (18 chỉ tiêu)

(11). Số lao động được giải quyết việc làm mới 750 người (trong đó, xuất khẩu lao động 30 người).

(12). Số lao động được đào tạo nghề trong năm 700 người

(13). Giảm tỷ lệ hộ nghèo trong năm trên 5%.

(14). Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở 12 xã.

(15). Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi 7 xã.

(16). Duy trì phổ cập Tiểu học (PCTH) đúng độ tuổi 8 xã.

(17). Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo 63,09%.

(18). Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi 29,8%.

(19). Tỷ lệ phát triển tự nhiên về dân số dưới 1,8%.

(20). Mức giảm tỷ lệ sinh 0,07%.

(21). Tỷ lệ hộ được sử dựng điện 68%.

(22). Số bác sỹ/10.000 dân 4,5 Bác sỹ.

(23). Số xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã 5 xã, thị trấn (04 duy trì, 01 xây dựng mới).

(24). Chỉ tiêu về tiêu chuẩn văn hóa

- Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá 57%.

- Tỷ lệ thôn, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hoá 30%.

- Tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá 85%.

(25). Duy trì số thôn, bản thực hiện quy ước, hương ước 100%.

(26). Tỷ lệ hộ được nghe đài, xem được Đài truyền hình Việt Nam

- Đài truyền hình Việt Nam 60%.

- Đài tiếng nói Việt Nam 85%.

(27). Chỉ tiêu vệ sinh môi trường

- Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 75%.

- Tỷ lệ hộ có công trình nhà vệ sinh 35%.

(28). Số người cai nghiện ma tuý trong năm 110 người (trong đó cai tại tỉnh 40, cộng đồng 70).

III. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp

- Tập trung các biện pháp tạo chuyển biến rõ nét chất lượng sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng: Tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi hướng dẫn nhân dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh tăng vụ; chuyển đổi mạnh diện tích lúa nương, diện tích sắn hiệu quả thấp sang trồng ngô hai vụ; từng bước chuyển đổi từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá; phát triển chăn nuôi khoanh vùng chăn thả, gắn với trồng cỏ, nâng cao chất lượng công tác phòng chống dịch bệnh, chống rét trong mùa đông. Nâng cao vai trò của hệ thống khuyến nông viên cơ sở, thú y viên cơ sở. 

- Hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt các quy định về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trực phòng chống cháy rừng 24/24 giờ trong những tháng cao điểm; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tăng cường công tác chỉ đạo hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng sản xuất.

2. Giao thông, Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

- Đôn đốc, chỉ đạo các xã, thị trấn sửa chữa, bảo dưỡng các công trình giao thông trên địa bàn quản lý; giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 51,709 tỷ đồng

- Nâng cao hiệu quả sản xuất của các đề án khuyến công đã được đầu tư. Triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án khuyến công theo các chương trình, dự án của trung ương, của tỉnh.

3. Tài chính, Ngân hàng và thương mại

- Đối với thu - chi ngân sách gắn liền với việc thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách; đề ra các biện pháp và giải pháp chống thất thu ngân sách; đẩy mạnh công tác kiểm tra tài chính, chống nợ đọng thuế. Đảm bảo chi đúng, tiết kiệm và có hiệu quả. Tiếp tục thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ; phấn đấu đạt thu ngân sách trên đại bàn đạt 8,3 tỷ đồng.

- Ngành Ngân hàng tiếp tục đổi mới, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn; tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận các nguồn vốn vay để đầu tư sản xuất, cải thiện điều kiện sống, xuất khẩu lao động. Tăng cường kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn vay.

- Cung ứng đủ các mặt hàng thiết yếu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân đi đôi với việc tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng lưu thông trên thị trường.

4. Thực hiện các chương trình, dự án

- Tăng cường công tác chỉ đạo để triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 30a của Chính phủ, dự án Giảm nghèo giai đoạn II, dự án điện Quốc gia đến xã Tà Xi Láng, Làng Nhì… Thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng. Khắc phục tình trạng đầu tư kém hiệu quả, dàn trải, thất thoát, lãng phí ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch và quyết định chủ trương đầu tư, trong thiết kế, lập dự toán công trình...

- Hướng dẫn nhân dân các xã khai thác sử dụng có hiệu quả các công trình đã được đầu tư; hoàn chỉnh thủ tục đầu tư và triển khai thi công các công trình xây dựng cơ bản năm 2011. Đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thành tuyến đường xã Làng Nhì giai đoạn III, Trạm Tấu – Bắc Yên, cải tạo nâng cấp đường xã Trạm Tấu – Xà Hồ.... Triển khai thực hiện các dự án theo kế hoạch tỉnh giao.

- Hoàn thiện công tác kê khai đăng ký cấp giấy CNQSDĐ tại 6 xã thực hiện năm 2009 và 2010. Hoàn thành dự án điều chỉnh sắp xếp đất nông nghiệp tại 06 xã, thị trấn còn lại theo đúng các trình tự thủ tục đã được quy định.

5. Văn hoá - xã hội

a) Giáo dục, đào tạo: Tiếp tục thực hiện mục tiêu về nâng cao chất lượng dạy và học. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội đầu tư vào giáo dục. Củng cố, duy trì kết quả xoá mù chữ; nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục THCS sở, phổ cập giáo dục tiểu học; đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 13/2009/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Hoàn thành việc rà soát sắp xếp, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục. Thực hiện có hiệu quả đề án nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; giải quyết cơ bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên.

- Tổ chức quản lý tốt và đôn đốc triển khai thực hiện theo đúng tiến độ các Đề án Kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, đề án phát triển giáo dục và chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo nhằm hoàn thiện cơ sở vật chất các trường học, xây dựng trường chuẩn quốc gia.

b) Y tế, dân số:

- Quan tâm thực hiện nề nếp, phát huy tốt năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất trang thiết bị y tế; tạo chuyển biến rõ nét về y đức trong các đơn vị y tế để thực hiện tốt hơn công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân. Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, kiểm soát không để phát sinh phức tạp dịch bệnh ở người; chú trọng biện pháp kiểm soát chất lượng thuốc và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ y tế; thực hiện tốt chế độ thu hút, ưu đãi nghề, khắc phục tình trạng thày thuốc nhất là bác sĩ chuyển vùng đến nơi khác làm việc. Thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia và các chương trình khác theo hướng lồng ghép tốt các hoạt động, các nguồn lực để đạt mục tiêu cao nhất. Đảm bảo chất lượng các công trình xây dựng cơ bản trong lĩnh vực y tế, phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh để đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn.

- Củng cố, tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác dân số tuyến huyện và tuyến xã đặc biệt các xã vùng cao. Tăng cường sự phối hợp của các ngành, các xã, thị trấn trong công tác dân số gia đình và trẻ em. Giảm thiểu tình trạng tảo hôn, sinh con thứ 3 xuống mức thấp nhất.

c) Văn hoá, thể thao: Duy trì và mở rộng các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT; nâng cao chất lượng các chương trình truyền  thanh – truyền hình, công tác thông tin, tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và các mục tiêu chính trị của địa phương; khai thác và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc. Đưa phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá và phong trào luyện tập thể dục thể thao đi vào chiều sâu.

d) Lao động, việc làm, giảm nghèo; an sinh xã hội:

- Tiếp tục thực hiện chương trình quốc gia giảm nghèo và việc làm, lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn thực hiện chương trình giảm nghèo và việc làm, tập trung vào các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, quan tâm tới công tác đào tạo nghề và ý thức tổ chức kỷ luật cho lao động xuất khẩu; chú trọng xuất khẩu lao động sang các nước có chính trị ổn định và có thu nhập cao. 

- Tăng cường xã hội hoá công tác giảm nghèo, nâng cao nhận thức, năng lực, huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, các tổ chức và người dân trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo bền vững. 

- Thực hiện kịp thời, đúng đối tượng các chính sách an sinh và phúc lợi xã hội. Đảm bảo thực hiện đúng chế độ, chính sách đối với người có công; người cao tuổi, người khuyết tật, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và hộ nghèo. Xây dựng và quản lý tốt Quĩ “Đền ơn đáp nghĩa”;  Quĩ Bảo trợ trẻ em...

e)  Dân tộc, Tôn giáo:

- Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết các dân tộc; vận động nhân dân định canh, định cư, chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước, không tái trồng cây thuốc phiện, không di dân tự do, không truyền đạo trái phép; tuyên truyền sâu rộng và vận động giáo dân hoạt động tôn giáo theo đúng Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo của Chính phủ, giữ vững ổn định chính trị xã hội.

- Tăng cường thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, dân tộc thực sự có chất lượng, hiệu quả; chủ động phối hợp đồng bộ các lực lượng xử lý kịp thời, có hiệu quả các vấn đề nảy sinh ngay từ cơ sở.

6. Quốc phòng- an ninh, chống tham nhũng lãng phí, cải cách hành chính

 - Giữ vững công tác an ninh chính trị vùng đồng bào dân tộc và vùng tôn giáo; chủ động nắm chắc tình hình, giải quyết dứt điểm kịp thời những vấn đề phát sinh; nhân rộng các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tố giác tội phạm tới từng thôn, bản, từng hộ gia đình.

- Tăng cường phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng hoàn chỉnh Đề án căn cứ hậu phương trong khu vực phòng thủ và đẩy mạnh xây dựng căn cứ hậu phương trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện; nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Tổ chức tuyển quân và giao quân theo đúng chỉ tiêu kế hoạch, đảm bảo số lượng và chất lượng.

- Các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền cơ sở, huy động mọi lực lượng làm tốt công tác chống khai thác, buôn bán lâm sản trái phép; phòng ngừa và kiên quyết phá bỏ hoàn toàn diện tái trồng cây thuốc phiện trên địa bàn niên vụ 2011 - 2012, xử lý nghiêm theo pháp luật những đối tượng tái trồng cây thuốc phiện.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; thực hành tiết kiệm; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công tác phòng, chống tham nhũng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra trên địa bàn để ngăn ngừa, xử lý kiên quyết dứt điểm các vụ việc tiêu cực, tham nhũng, tạo lập môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh lâu dài.

-  Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước theo phân cấp Nghị quyết TW 5 – khoá X về công tác cải cách hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước cấp huyện và cấp xã.

Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 18 - Hội đồng nhân dân huyện Trạm Tấu khóa XV và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 

(Đã ký)

 

 

Nguyễn Phúc Cường

 

Tệp đính kèm