Tình hình kinh tế - xã hội

 Tệp đính kèm

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2007

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2008

(Trình  tại kỳ họp thứ 9 - HĐND khoá XVIII)

­­­­­­­­­­­­­­­________________

Phần thứ nhất:

CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND HUYỆN

KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC NĂM 2007

 

Năm  2007, năm đầu tiên Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới, bên cạnh những thuận lợi cũng còn nhiều những khó khăn, thách thức do tác động của nền kinh tế thế giới, cùng với thiên tai, dịch bệnh gây hậu quả nghiêm trọng ở nhiều vùng trong nước, có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của địa phương. Song, dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, sự giám sát của HĐND, sự điều hành tích cực của UBND huyện, sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc trong huyện; sự phối hợp chặt chẽ của MTTQ và các Đoàn thể chính trị xã hội. Các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007 được kỳ họp thứ 7 - HĐND huyện khóa XVIII thông qua, đã cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra.

Những kết quả đó được thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực sau:

            A.  Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND huyện.

Năm 2007, bám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm đã đề ra trên từng lĩnh vực, các thành viên UBND huyện đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ.

* Chủ tịch UBND huyện, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động về kế hoạch, tổ chức cán bộ, tài chính ngân sách. Đôn đốc các thành viên UBND huyện, thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công. Thường xuyên báo cáo công tác với Thường trực Huyện uỷ, đề xuất các phương án và biện pháp tổ chức thực hiện. Ra các quyết định và giải pháp để thực hiện Nghị quyết HĐND huyện. Trực tiếp giải quyết những vấn đề như­: Giải quyết đơn th­ư khiếu nại, tố cáo, đối thoại trực tiếp với nhân dân; Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, giám sát chặt chẽ chất lượng, thực hiện đúng các quy định tài chính trong xây dựng cơ bản, quản lý đất đai. Tập trung chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt đối với các công trình, dự án trọng điểm. Thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng cơ bản năm 2008. Chỉ đạo hoạt động thu, chi tài chính ngân sách. Coi trọng việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh tỉnh giao và HĐND huyện đã nghị quyết. Tranh thủ sự chỉ đạo và giúp đỡ của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ.

* Hai Phó Chủ tịch và các thành viên UBND huyện, đ­ược phân công nhiệm vụ cụ thể, phụ trách theo từng khối, vì vậy kết quả chỉ đạo đạt hiệu quả rõ rệt.

            Trên lĩnh vực kinh tế: đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng thâm canh, chuyên canh; khâu nối và tạo điều kiện thuận lợi, để gắn phát triển sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Tập trung đầu tư thâm canh và thực hiện có hiệu quả, các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp. Tăng cường công tác khuyến nông, triển khai xây dựng các mô hình, làm cơ sở thực tiễn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đầu tư thâm canh nhằm nâng cao chất lượng và giá trị trong sản xuất nông nghiệp. Đẩy mạnh việc bảo vệ và phát triển rừng, bàn giao đất lâm nghiệp, quản lý bảo vệ rừng. Phát triển chăn nuôi, tập trung phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giao thông, công nghiệp và xây dựng cơ bản. Có cơ chế, chính sách thuận lợi, thu hút, khuyến khích phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Gắn sản xuất công nghiệp với thị trường, phát huy thế mạnh của địa phương, nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu hàng hoá. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường; thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, khu vực dân cư thuộc đất Lâm trường Việt Hưng quản lý.

Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội: tập trung chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, y tế, giáo dục. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân. Duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục. Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chính sách bảo trợ xã hội và giải quyết việc làm.

Về an ninh - quốc phòng: Tăng cường củng cố quốc phòng, thực hiện tốt kế hoạch giao quân; huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên. Đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tổ chức triển khai tốt Nghị quyết số 32 của Chính phủ về đảm bảo an toàn giao thông; phòng chống bão lũ - giảm nhẹ thiên tai; đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại; thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tiêu cực. Duy trì tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo theo đúng quy định. Đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự.

Công tác Văn phòng: đã làm tốt hai chức năng tham m­ưu và phục vụ cho Thường trực HĐND và UBND huyện, để xử lý các thông tin qua Văn phòng. Kiểm soát đảm bảo phát hành đúng chế độ 4.442 quyết định, 165 báo cáo, 19 chỉ thị, 185 thông báo và 1.137 văn bản khác. Xử lý 3.337 văn bản đến đảm bảo yêu cầu quản lý và điều hành.

* Nhìn chung, năm 2007 dưới sự chỉ đạo, điều hành của UBND huyện, các lĩnh vực kinh tế, văn hoá- xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn, tiếp tục ổn định và có bước phát triển. Một số ch­ương trình kinh tế trọng điểm, tuy trong quá trình thực hiện có gặp những khó khăn, nhưng đã được tập trung tháo gỡ nên kết quả đạt tốt. UBND huyện đã phối hợp chặt chẽ với Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Thường trực Uỷ ban MT TQ chuẩn bị tốt nội dung và tổ chức thành công 02 kỳ họp của HĐND huyện; thực hiện tốt các kỳ tiếp xúc cử tri với gần 4.000 lượt cử tri của 29 xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác phối hợp với Thường trực HĐND, Uỷ ban MTTQ các xã, thị trấn. Tiếp thu, giải quyết và trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri theo đúng quy định.

B. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch năm 2007.

Dưới sự lãnh đạo của Ban thường vụ Huyện uỷ, sự cố gắng nỗ lực và năng động sáng tạo của các cấp, các ngành, nhân dân các dân tộc và chiến sỹ lực lượng vũ trang trong huyện, năm 2007 toàn huyện đã hoàn thành 23/24 chỉ tiêu mà Nghị quyết kỳ họp thứ 7 - HĐND huyện khoá XVIII đã đề ra (chỉ còn 01 chỉ tiêu chuyển đổi ruộng một vụ là chưa hoàn thành).

I. Trên lĩnh vực kinh tế:

Có thể khẳng định, nền kinh tế của huyện phát triển khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, theo hướng tập trung, các thành phần kinh tế được khuyến khích, các loại hình dịch vụ phát triển đa dạng; giá trị sản xuất công nghiệp tăng mạnh, tổng mức đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 2 lần so với năm 2006.

- Tốc độ tăng trưởng đạt 12,85%,

+ Trong đó:        Ngành nông, lâm nghiệp tăng 6,8%,

                        Công nghiệp, xây dựng tăng 16,6%,

                        Thương mại, dịch vụ tăng 17,3%.

          + Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng:

Ngành nông lâm nghiệp chiếm 36,9%,

            Công nghiệp, xây dựng chiếm 32,8%;

            Thương mại, dịch vụ chiếm 30,3%.

            + Thu nhập bình quân đầu người đạt 6,1 triệu đồng.

Kết quả cụ thể của các ngành như sau:

1. Sản xuất nông lâm nghiệp:

Năm 2007, sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn thách thức thời tiết khắc nghiệt: Vụ đông xuân thời tiết ấm, vụ mùa mưa bão xảy ra liên tiếp vào cuối vụ, gây ngâp úng nhiều diện tích lúa mùa cuối vụ và rau màu vụ đông. Sản xuất vụ đông hạn hán kéo dài; trong chăn nuôi dịch bệnh tiếp tục đe dọa; thị trường nông sản, đặc biệt là sản phẩm chăn nuôi không ổn định; giá nguyên vật liệu vật tư đầu vào tăng cao.

Song, do có nhiều biện pháp tích cực trong chỉ đạo điều hành nên sản xuất nông lâm nghiệp năm 2007, tiếp tục đạt được kết quả khá toàn diện. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo ra các vùng sản xuất lớn tập trung, gắn được sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Một số sản phẩm tiếp tục được tiêu thụ ổn định: Sản phẩm măng Bát Độ, lúa chất lượng cao, chè Bát Tiên, dâu tằm. Các chỉ tiêu nông lâm nghiệp đều đạt và vượt so với kế hoạch, một số chỉ tiêu gần đạt với Nghị quyết của Đảng bộ huyện, như: Chỉ tiêu trồng mới tre măng Bát Độ, lúa chất lượng cao, cải tạo chè.

* Về sản xuất lương thực: Hoàn thành tương đối toàn diện các chỉ tiêu chủ yếu.

- Diện tích gieo cấy lúa cả năm 6.147,4 ha, bằng 98,8% KH, năng suất bình quân đạt 45,9 tạ/ha, sản lượng đạt 28.235 tấn, bằng 95,9% KH; diện tích lúa chất lượng cao là 1.705,3 ha, năng suất 42,1 tạ ha, sản lượng 7.185 tấn; Tổng sản lượng lương thực có hạt 31.787 tấn, bằng 96,6% KH.

- Cây màu: Trồng được 1.083,3 ha sắn, đạt 108,3% KH, năng suất 103,8 tạ/ha, sản lượng 11.249,6 tấn; trồng 362,7 ha khoai lang, đạt 100,8% KH, năng suất đạt 50,5 tạ/ha, sản lượng 1.833,4 tấn; đậu tương 89,3 ha, năng suất 12,4 tạ/ha, sản lượng 110,8 tấn; lạc 91,9 ha, năng suất 12,9 tạ/ ha, sản lượng 118,2 tấn; mía 20,6 ha, năng suất 247 tạ/ha, sản lượng 509 tấn.

- Diện tích cây vụ đông 2007 - 2008 đạt 1.400 ha, bằng 93,3% KH, trong đó: cây ngô 752 ha, bằng 107,4% KH; khoai lang 156 ha và 492 ha rau các loại.

Nhìn chung, lĩnh vực sản xuất lương thực đã có nhiều cố gắng, công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện về cơ cấu giống, lịch thời vụ cơ bản là phù hợp; các biện pháp kỹ thuật được triển khai ứng dụng rộng rãi, trong sản xuất thông qua công tác khuyến nông ở cơ sở. Các hoạt động dịch vụ vật tư nông nghiệp có bước phát triển, đáp ứng nhu cầu của địa phương. Công tác chỉ đạo, phòng chống lụt bão, khắc phục hậu quả kịp thời. Song bên cạnh còn có những hạn chế như việc chỉ đạo gieo cấy tại một số xã chưa kiên quyết, không đúng lịch thời vụ, nên ảnh hưởng tới năng suất lúa.

* Về chăn nuôi - thuỷ sản:

- Thuỷ sản: khai thác có hiệu quả 340 ha ao hồ nuôi trồng thủy sản, sản lượng đạt 782 tấn. Nuôi 370 lồng cá, sản lượng 111 tấn. Chuyển đổi được 5 ha ruộng 1 vụ kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản. Thử nghiệm mô hình nuôi cá rô phi đơn tính, kết hợp nuôi ếch Thái Lan với diện tích 1,4 tại xã Minh Quân đạt kết quả tốt, thu lãi 57,4 triệu đồng/ha, cao gấp 5,1 lần so với cấy lúa.

- Chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, đặc biệt đối với bệnh lở mồm long móng gia súc, dịch cúm gia cầm, bệnh dại. Đã tiêm 43.000 liều vắc xin cho gia súc, 967.100 liều vắc xin gia cầm; kiểm dịch 5.864 con gia súc, gia cầm; kiểm soát giết mổ 11.239 con. Tập trung chăm sóc và chuẩn bị các điều kiện về chuồng trại, thức ăn để phòng chống rét cho đàn gia súc, gia cầm. Tổng đàn trâu hiện có 12.500 con; đàn bò 6.667 con, tăng 1.238 con so với cùng kỳ; đàn lợn 55.000 con; đàn gia cầm  550.000 con.

* Về sản xuất lâm nghiệp:

            - Trồng mới được 1.992 ha, đạt 110,7% KH, trong đó trồng rừng tập trung: 1.485 ha, đạt 114,2% KH; 507 ha cây phân tán, đạt 101,4% KH. Giao khoán bảo vệ 11.112 ha rừng phòng hộ cho 127 hộ và nhóm hộ. Bàn giao 9.039 ha đất do Lâm trường Việt Hưng sang Ban quản lý dự án 661 của huyện quản lý; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng việc bàn giao đất rừng, để xâm lấn trái phép.

- Tre măng Bát Độ: Trồng mới 332 ha, đạt 110,6% kế hoạch đề ra, tỷ lệ sống đạt trên 90%; Đến nay tại 23 xã có 1.888 hộ tham gia, đã thực hiện trồng được: 947 ha đạt 94,7% so Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XIX; diện tích cho thu hoạch măng năm 2007 là 615 ha (trong đó diện tích kinh doanh là 341 ha); sản lượng măng vỏ tươi đạt 5.896 tấn, bằng 98,2% KH. Công ty TNHH Vạn Đạt vẫn tiếp tục đầu tư vùng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm ổn định cho nhân dân.

* Về cây công nghiệp:

- Cây chè: toàn huyện có 2.650 ha, trong đó: 381,5 ha chè chất lượng cao, 18 ha chè Shan, 2.250,5 ha chè khác.

Diện tích chè kinh doanh là 2.350,7 ha, trong đó chè chất lượng cao: 49,2 ha, chè khác: 2.301,5 ha; năng suất 72,7 tạ/ha, sản lượng búp tươi đạt 17.093 tấn, bằng 101,2% kế hoạch đề ra, trong đó sản lượng chè chất lượng cao đạt 344,4 tấn. Diện tích chè kiến thiết cơ bản: 299,3 ha, trong đó chè chất lượng cao: 218,5 ha, chè Shan: 18 ha, chè khác: 62,8 ha.

Diện tích cải tạo trồng mới năm 2007 là 120 ha, trong đó chè chất lượng cao: 113,8 ha, đạt 113,8% kế hoạch.

            - Dâu tằm: Trồng mới 50 ha, bằng 100% kế hoạch, nâng tổng diện tích dâu toàn huyện lên 127,48 ha, trong đó có 77,48 ha đang cho thu lá; sản lượng kén 48,7 tấn, tăng 15,46 tấn so với năm 2006, bằng 100% kế hoạch, giá trị thu đạt 2 tỷ đồng. Phối hợp tốt với công ty Cổ phần dâu tằm tơ Trấn Yên, phát triển vùng nguyên liệu và tháo gỡ vướng mắc, tồn tại trong thu mua, tiêu thụ kén tằm của nhân dân.

* Thực hiện các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đều đạt kết quả tốt, tạo cơ sở định hướng phát triển sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương: Mô hình nhân giống lạc tại xã Minh Tiến, Y Can, năng suất đạt 19 tạ/ha, giá trị thu đạt 25 triệu đồng/ha; mô hình trồng đao giềng tại xã Lương Thịnh và Hồng Ca, năng suất đạt 75 tấn/ha, giá trị thu đạt 35 triệu đồng/ha; mô hình trồng đậu tương vụ hè thu trên đất khô hạn năng suất 70 kg/ sào, trị giá công lao động đạt 51.000 đồng/công, cao gấp 2 lần so với trồng lúa.

            * Công tác khuyến nông được chú trọng thực hiện, đã có 28 xã có khuyến nông viên cơ sở. Trong năm đã tổ chức được 46 lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho 1.535 lượt hộ, góp phần làm thay đổi và nâng cao nhận thức, trình độ canh tác trong sản xuất nông lâm nghiệp cho nhân dân.

            * Công tác phòng chống bão lũ - giảm nhẹ thiên tai, đã được tập trung chỉ đạo thực hiện, từ huyện đến cơ sở đã xây dựng kế hoạch và phương án xử lý cụ thể trong mọi tình huống; chuẩn bị đầy đủ về lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo phòng chống hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Thực hiện dự án quy hoạch khu dân cư mới, để di dời 18 hộ dân nằm trong vùng nguy hiểm do nguy cơ sạt lở núi Vì xã Hưng Khánh.

2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

            * Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, tiếp tục được khuyến khích đầu tư phát triển, huyện đã tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục đầu tư, địa điểm xây dựng, vì vậy các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn có hướng phát triển tốt, một số doanh nghiệp từng bước đã có sự phối chặt chẽ với chính quyền địa phương và nhân dân trong việc đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, tạo việc làm cho người lao động, bảo vệ môi trường và thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước. Năm 2007 có thêm 3 doanh nghiệp tư nhân, 3 công ty cổ phần, 1 công  ty TNHH thành lập mới và 126 hộ sản xuất kinh doanh đăng ký mới, đưa tổng số toàn huyện có 11 doanh nghiệp tư nhân, 9 công ty cổ phần, 17 công ty TNHH, 44 HTX và 1.122 hộ sản xuất kinh doanh, tập trung ở các lĩnh vực: Chế biến gỗ, chè và kinh doanh dịch vụ tổng hợp. Hoạt động của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn ổn định cả về nguyên liệu đầu vào và thị trường. Thu nộp ngân sách ngoài quốc doanh năm 2007 đạt 5,5 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, tăng hơn so với cùng kỳ năm 2006.

- Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 48,97 tỷ đồng (theo giá cố định), bằng 103,9% kế hoạch, đạt 70,785 tỷ đồng theo giá hiện hành, chủ yếu là các nhóm hàng truyền thống như chế biến nông sản, chế biến gỗ, khai thác khoáng sản, sản phẩm mộc dân dụng.

             * Hoạt động kinh doanh dịch vụ, hàng hoá cơ bản ổn định và có bước tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên địa bàn đạt 180 tỷ đồng, bằng 100% KH, bằng 133,3% so với cùng kỳ. Hoạt động quản lý thị trường được tăng cường, đã kiểm tra và xử lý 70 vụ vi phạm, xử phạt hành chính và bán hàng tịch thu, nộp ngân sách 150,2 triệu đồng.

3. Về giao thông, xây dựng cơ bản.

* Giao thông: Công tác phát triển giao thông nông thôn tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Các xã đã có nhiều cố gắng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia đóng góp ngày công, kinh phí để duy tu bảo dưỡng các tuyến đường, đặc biệt trong việc khắc phục sạt lở do mưa bão. Huy động nguồn đóng góp của nhân dân và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kích cầu, trong đầu tư xây dựng các tuyến đường liên thôn, liên xã. Tổng giá trị đầu tư xây dựng các công trình giao thông năm 2007 là 27,209 tỷ đồng, đầu tư cho 20 công trình. Đã mở mới và mở rộng 16,4 Km đường; rải cấp phối 11,57 Km; rải nhựa 23,16 km; rải bê tông 3,919 Km; xây dựng 02 ngầm tràn; sửa chữa và làm mới 4 cầu treo; duy tu bảo dưỡng 50 km đường liên thôn, liên xã, một số xã có phong trào phát triển giao thông nông thôn tốt như Hưng Khánh, Hồng Ca. Tập trung đôn đốc, chấn chỉnh hoạt động giao thông đường thuỷ trên địa bàn, đặc biệt đối với các bến đò ngang trong mùa mưa bão, trong năm trên địa bàn không có tai nạn giao thông đường thuỷ nào xảy ra.

* Xây dựng cơ bản:

- Tổng mức đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 164,492 tỷ đồng, trong đó huyện làm chủ đầu tư 75 công trình và 116 tiểu dự án hợp phần ngân sách phát triển xã, trong đó tiếp chi năm 2006: 7 công trình; khởi công mới 68 công trình và 116 tiểu dự án. Giá trị thực hiện đến 31/12/2007 ước đạt 49,472 tỷ đồng, bằng 124,05% KH vốn giao. Giá trị còn lại do các ngành của tỉnh, vốn đầu tư nước ngoài, các nhà tài trợ, doanh nghiệp làm chủ đầu tư và xây dựng dân dụng.

- Các công trình xây dựng cơ bản, được triển khai thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo công khai, dân chủ, phát huy tốt hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Huy động đủ nguồn đóng góp của nhân dân đối với các công trình thuộc nguồn vốn kích cầu. Các thủ tục đầu tư, việc đôn đốc tiến độ, giám sát chất lượng, nghiệm thu, thanh quyết toán vốn được thực hiện theo đúng yêu cầu.

- Đã hoàn thành 116 tiểu dự án thuộc hợp phần ngân sách phát triển xã, thuộc dự án giảm nghèo chu kỳ 5 với tổng vốn đầu tư là 2,375 tỷ đồng. Năm 2007, Đoàn công tác của Giám đốc Ngân hàng thế giới và các nhà tài trợ chương trình 135 giai đoạn 2, đã kiểm tra và đánh giá cao hiệu quả của chương trình WB và chương trình 135 trên địa bàn.

4. Quy hoạch, quản lý tài nguyên và môi trường, giải phóng mặt bằng.

            * Lập hồ sơ điều chỉnh quy hoạch chi tiết chợ xã Đào Thịnh, Minh Quán; điều chỉnh quy hoạch chi tiết công viên đầm Vối thị trấn Cổ Phúc, quy hoạch 3 xã thuộc chương trình 135.

* Quản lý tài nguyên và môi trường:

- Hoàn thành quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn 2006 – 2015; kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định giá đất năm 2008. Quy hoạch quỹ đất dân cư tại các xã: Minh Quán, Hợp Minh, Đào Thịnh, Tân Đồng, Việt Hồng, Hồng Ca và Hưng Khánh. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện nhanh gọn, đúng quy định và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ thuộc lâm trường Việt Hưng. Thực hiện thí điểm việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông, giữa phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục thuế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính cho người dân. Đã cấp 3.600 GCN QSD đất, bằng 105% KH.

* Công tác giải phóng mặt bằng, đã tập trung cao cho các công trình, dự án trọng điểm như Sân vận động huyện, khu mỏ sét xã Hợp Minh, bến xe khách liên tỉnh tại xã Âu Lâu, giải phóng mặt bằng vùng ảnh hưởng khu công nghiệp phía nam. Tiếp tục giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong giải phóng mặt bằng khu công nghiệp tại xã Văn Tiến và khu Ga Văn Phú.

5. Thu chi ngân sách và hoạt động ngân hàng:

* Công tác thu ngân sách được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm với nhiều biện pháp tích cực, có kế hoạch thu cụ thể cho từng tháng, từng quý, từng khoản thu, để đảm bảo thu thu đúng, thu đủ các khoản thu ngân sách; tháo gỡ khó khăn, phấn đấu để đạt mức thu cao nhất đối với thu cấp quyền sử dụng đất. Tổng thu cân đối trên địa bàn đạt 15,2 tỷ đồng, bằng 107% kế hoạch, trong đó thu tiền giao đất đạt 6,2 tỷ đồng và thu ngoài quốc doanh đạt 5,5 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch đề ra.

- Chi ngân sách đã đáp ứng yêu cầu phục vụ các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn. Thực hiện tốt việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng trong chi ngân sách. Tổng chi ngân sách đạt 146,1 tỷ đồng, bằng 140,1% KH tỉnh, 136,3% KH huyện.

* Hoạt động của Ngân hàng và các quỹ tín dụng đã có nhiều đổi mới, đã bám sát các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, thực hiện đúng quy chế cho vay, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị trong việc giám sát thực hiện nguồn vốn vay, do đó đã hạn chế được nợ xấu, nợ quá hạn. D­ư nợ của Ngân hàng chính sách xã hội là 57,179 tỷ đồng, đạt 97,3% KH. Tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng NN&PTNT là 91 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ, tổng dự nợ cho vay 145 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ.

Hoạt động của Kho bạc nhà nước đã đáp ứng đầy đủ kịp thời nhiệm vụ, thực hiện tốt chức năng kiểm soát thu chi ngân sách theo đúng quy định hiện hành.

II. Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội.

1. Văn hoá, thông tin, truyền thanh và bưu chính viễn thông.

* Công tác văn hoá thông tin và tuyên truyền, tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hoạt động và đa dạng hoá các loại hình thông tin, tuyên truyền, bám sát các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội và kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Tăng cường công tác phối hợp của các cơ quan, đơn vị, đoàn thể trong việc thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng gia đình, làng bản, đơn vị, xã văn hoá, đảm bảo phát triển cả về vật chất và tinh thần. Ra mắt đăng ký xây dựng 2 xã, 20 làng, bản văn hoá, nâng tổng số xã đăng ký xã văn hoá trong huyện lên 6 xã; 232 làng, bản văn hoá; có 90 làng đã được công nhận làng văn hoá; có 160 cơ quan, đơn vị được công nhận đơn vị văn hoá; 19.200 hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá.  Đã quy hoạch đất để xây dựng nhà văn hoá cho 185/280 thôn, bản; hiện nay đã xây dựng được 142 nhà. Thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, di tích lịch sử cách mạng và các giá trị văn hoá dân gian, tín ngưỡng, các lễ hội trong cộng đồng dân cư. Phong trào thể dục thể thao tiếp tục phát triển có chiều sâu, thu hút được nhiều người tham gia tập luyện. Thành lập được 17 Câu lạc bộ cầu lông với trên 300 thành viên tham gia; xây dựng mới sân Tennit của huyện.

* Công tác phát thanh - truyền hình, ngày càng được củng cố, mở rộng và phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng tiếp, phát sóng đến từng xã, thị trấn. Xây dựng được 368 chương trình phát thanh địa phương, đảm bảo duy trì ổn định mỗi ngày một chương trình phát thanh thời sự tổng hợp, mở mới chuyên mục tuyên truyền về an toàn giao thông; hàng tuần thực hiện 01 chuyên trang “Tiếng nói từ cơ sở”, do các đài xã luân phiên thực hiện phát sóng trên đài huyện. Tỷ lệ hộ được xem truyền hình đạt 87%, được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam là 98%.

* Hoạt động của mạng lưới Bưu chính viễn thông: Phát hành các loại báo Trung ương và địa phương tới từng cơ sở, đảm bảo cho nhân dân được đọc các loại báo thường xuyên trong ngày. Tổng số máy điện thoại cố định trên địa bàn là 5.215 máy, bình quân 5,31 máy/100 dân. Phát hành 146 loại báo - tạp chí, trong đó báo trung ương là 429.711 tờ; báo địa phương là 168.246 tờ, riêng báo Nhân Dân là 117.676 tờ.

2. Giáo dục và đào tạo:

Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo theo hướng đổi mới về phương pháp, mục tiêu, nội dung, chương trình giảng dạy. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “ Hai không” với bốn nội dung của ngành Giáo dục phát động. Năm học 2007 - 2008, toàn huyện có 26 trường Mầm non với 5.699 cháu, tỷ lệ huy động trẻ thuộc nhóm trẻ ra lớp đạt 65,3%, trẻ ra lớp mẫu giáo là 88%; có 34 trường Tiểu học với 6.837 học sinh, tỷ lệ học sinh vào lớp 1 đúng độ tuổi đạt 99,65%; 22 trường THCS với 7.552 học sinh, 5 trường THPT với  4.710 học sinh.

Toàn ngành hiện có 1.516 cán bộ, giáo viên, trong đó có 137 giáo viên hợp đồng; tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt chuẩn là 92,6%, giáo viên mầm non là 87,1%; bổ nhiệm mới 6 cán bộ quản lý, điều động và tăng cường 78 giáo viên, đảm bảo đủ về số lượng và cơ cấu giáo viên cho các trường; xây dựng và đề nghị công nhận thêm 02 trường đạt chuẩn quốc gia, bằng 100% kế hoạch, nâng tổng số trường chuẩn quốc gia của huyện lên 4 trường.

Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đã có sự chuyển biến, tuy nhiên vấn đề chống tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục chưa được tuyên truyền sâu rộng, chưa tạo được dư luận và sự ủng hộ rộng rãi của toàn xã hội; tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông thấp, bình quân toàn huyện chỉ đạt gần 50%; chất lượng giáo dục thực tế chưa cao; ngành giáo dục chưa có những biện pháp tích cực để duy trì bền vững chất lượng giảng dạy, học tập và phổ cập giáo dục các bậc học.

3. Công tác y tế.

Cùng với sự phát triển của xã hội, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được đầu tư, chú trọng, đặc biệt là công tác chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được quan tâm, cơ bản đáp ứng được nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Trong năm đã khám chữa bệnh cho trên 216.625 lượt người; việc tiêm chủng định kỳ cho trẻ em đạt tỷ lệ 97,5%, thực hiện tốt chiến dịch tiêm vắc xin phòng bệnh sởi, phòng chống bệnh tiêu chảy cấp, thường xuyên kiểm tra, giám sát các chương trình phòng chống dịch bệnh xã hội, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn.

Toàn huyện có 16 xã có bác sỹ; 100% xã có nữ hộ sinh, 100% số thôn bản có cán bộ y tế. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng và củng cố các tiêu chuẩn xã hội hoá, kết hợp với đầu tư cơ sở vật chất, củng cố đội ngũ cán bộ y tế, năm 2007 đã có 6 xã đủ tiêu chuẩn đề nghị công nhận chuẩn quốc gia y tế, đạt 100% kế hoạch; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để duy trì tốt 11 xã đã đạt chuẩn quốc gia y tế.

4. Công tác dân số gia đình và trẻ em, chữ thập đỏ:

* Tăng cường công tác tuyên truyền pháp lệnh dân số và kiến thức chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình. Duy trì có hiệu quả các dự án dinh dưỡng trên địa bàn. Tốc độ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,053%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 21,3%.

* Công tác chữ thập đỏ: Trong năm đã kiện toàn BCH Hội chữ thập đỏ của huyện, thành lập 29 đội xung kích cơ sở; tổ chức tốt các hoạt động từ thiện nhân đạo, đã thăm hỏi tặng quà trên 2.000 đối tượng, trị giá trên 300 triệu đồng; vận động xây dựng quỹ hội các cấp đạt trên 90 triệu đồng; vận động nguồn quỹ tài trợ của các tổ chức được gần 200 triệu đồng để làm đường giao thông, công trình nhà đa năng TT Cổ Phúc và duy trì hoạt động các đội xung kích.

5. Công tác dân tộc và tôn giáo:

* Tổ chức triển khai có hiệu quả các chính sách xã hội đối với các xã đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc, vì vậy trong năm qua, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đã có nhiều chuyển biến trong sản xuất và đời sống, cơ cấu cây trồng vật nuôi, tập quán canh tác của đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có sự thay đổi rõ nét; đã đưa vào sản xuất nhiều giống cây trồng mới như: chè Bát tiên, chè Phúc vân tiên, măng Bát độ, đao giềng, trồng dâu nuôi tằm, chăn nuôi bò theo phương pháp bán công nghiệp và nuôi cá lồng ... nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, nhiều hộ gia đình đã có thu nhập cao.

 Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước cho đồng bào các dân tộc và các xã đặc biệt khó khăn như: Chương trình 135, nguồn vốn trung tâm cụm xã và chương trình 134, đã làm thay đổi bộ mặt của các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, đặc biệt là về xây dựng kết cấu hạ tầng.

- Chương trình 134 đã hoàn thành sớm kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho 780 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; 200 bể, téc nước; 7,4 ha đất sản xuất; 03 công trình nước sinh hoạt tập trung tại các xã Hồng Ca, Vân Hội, Việt Hồng với tổng vốn đầu tư 6,580 tỷ đồng. Chương trình 135 đã đầu tư xây dựng 01 công trình  y tế, 02 nhà lớp học, 01 công trình đường điện, 06 công trình giao thông, tổng vốn đầu tư  6,015  tỷ đồng.

- Đã trợ cước vận chuyển 300 tấn vật tư nông nghiệp; trợ giá 5 tấn giống lúa lai; cấp không thu tiền vở, giấy viết cho 2.830 học sinh, trị giá 53 triệu đồng. Hoàn thành chương trình hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ đời sống và trợ cấp khó khăn cho các đối tượng, đảm bảo đúng quy định.

- Cấp không thu tiền 18 loại với 3.557 số báo, tạp chí, như Báo Măng non, Bản tin ảnh Dân tộc và Miền núi, Báo Dân tộc và phát triển, Báo Nông thôn ngày nay, Báo Thiếu niên, nhi đồng, Tạp chí văn hoá dân tộc... góp phần nâng cao nhận thức cho người dân.

* Tình hình tôn giáo: Toàn huyện hiện có 2 dòng đạo chính là: đạo Phật và đạo Công giáo. Đạo Phật tuy chưa hình thành hệ thống, nhưng đã có 900 Phật tử, tập hợp thành các bản hội, qui chùa; đạo Công giáo có khoảng 6.000 người, sinh hoạt ở 12 họ đạo đã được nhà nước công nhận, ngoài ra còn có 9 họ đạo khác chưa được công nhận. Quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc, tôn giáo được chú trọng. Hoạt động tôn giáo trên địa bàn diễn ra thuần tuý; tình hình dân tộc, tôn giáo, di dịch dân trên địa bàn ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc, đồng bào công giáo ngày càng được nâng lên.

6. Công tác lao động, thương binh, xã hội:

* Công tác lao động - giải quyết việc làm: Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn, đã giải quyết việc làm mới cho 2.899 lao động, đạt 111,5% kế hoạch, trong đó đưa 250 lao động đi làm việc tại nước ngoài, đạt 100% kế hoạch; Cho vay từ nguồn vốn 120: 53 dự án  với số vốn cho vay 1,4 tỷ đồng, đã tạo chỗ làm việc mới cho 261 lao động. Đã mở 05 lớp đào tạo nghề tập trung, ngắn hạn cho 150 lao động trong nông nghiệp nông thôn.

* Công tác thương binh liệt sỹ và người có công: thực hiện tốt công tác quản lý và chi trả đúng chế độ cho 1.800 đối tượng đang hưởng trợ cấp ưu đãi. Nhân các ngày lễ tết, đã tổ chức thăm hỏi động viên và đã tặng tổng số 3.036 xuất quà của Chủ tịch nước, của tỉnh, của huyện, tương đương 110 triệu đồng; cấp 2.244 thẻ bảo hiểm y tế, thực hiện chế độ điều dưỡng tập trung và điều dưỡng luân phiên cho 205 đối tượng người có công; xây dựng 17 nhà tình nghĩa từ nguồn kinh phí của tỉnh, huyện và các ngành; phối hợp tìm kiếm, quy tập 12 hài cốt liệt sỹ tại xã Hồng Ca; tiếp nhận 05 hài cốt liệt sỹ hy sinh tại nước bạn Lào và quy tập 05 hài cốt liệt sỹ tại xã Văn Lãng, vào nghĩa trang Trung tâm huyện.

* Công tác bảo trợ xã hội - xoá đói giảm nghèo: Thực hiện trợ cấp  bảo trợ xã hội thường xuyên cho 689 người, trong đó người từ 90 tuổi trở lên là 189 người, đã cấp 172 thẻ bảo hiểm  y tế cho người cao tuổi. Nhân dịp tết nguyên đán đã cấp: 83.950 kg gạo cho 16.156 khẩu; trợ cấp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn trên 12 triệu đồng; đã cấp 28.964 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, các đối tượng thuộc các xã đặc biệt khó khăn và hội viên Hội cựu chiến binh. Hoàn thành kế hoạch điều tra hộ nghèo năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo đến  thời điểm tháng 11/2007 là 18,34%. Hoạt động của các tổ chức xã hội trên địa bàn có nhiều chuyển biến góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

 

7. Công tác cải cách hành chính, công tác tổ chức, thi đua khen thưởng:

* Công tác cải cách hành chính:

 Tiếp tục tăng cường đổi mới hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Bộ máy tổ chức của các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn được xắp xếp lại hợp lý, giảm tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân, góp phần tăng cường trách nhiệm, kỷ cương của đội ngũ cán bộ, công chức. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, chú trong việc công khai trên các lĩnh vực tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý tài chính, đất đai và xây dựng cơ bản. Thực hiện việc trực làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính trong ngày thứ 7 tại UBND huyện, các cơ quan, đơn vị chuyên môn và UBND các xã, thị trấn. Thực hiện có hiệu quả Trung tâm giao dịch 1 cửa tại huyện; thí điểm việc giao dịch 1 cửa liên thông giữa Chi cục thuế - Phòng Tài nguyên và Môi trường trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Công tác tổ chức: Triển khai nghiệp vụ và chỉ đạo các cơ sở xã, thị trấn trong huyện thực hiện thành công cuộc Bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XII; Thường xuyên rà soát, kiểm tra và kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị và UBND các xã, thị trấn, trong năm đã điều động và bổ nhiệm 11 cán bộ quản lý.

- Tập trung giải quyết cho 27 cán bộ công chức, viên chức nghỉ theo Nghị định số 132 của Chính phủ và 59 giáo viên nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; tiến hành rà soát, xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị định 132 của Chính phủ; nâng lương cho 700 cán bộ công chức, viên chức trong huyện.

- Mở 02 lớp đào tạo và bồi dưỡng tin học cho 40 cán bộ công chức cơ sở; 02 lớp bồi dưỡng quản lý Nhà nước cho 100 công chức cơ sở và 80 trưởng thôn bản.

* Công tác Thi đua - khen thưởng:

Năm 2007, công tác thi đua khen thưởng đã được đẩy mạnh, đảm bảo đúng luật thi đua khen thưởng. Hội đồng thi đua- khen thưởng huyện được củng cố, hoạt động của 17 khối thi đua trên địa bàn huyện tiếp tục duy trì có nề nếp, các phong trào thi đua đã chú trọng tính thiết thực, tính hiệu quả.

Thường xuyên phát động các phong trào thi đua, động viên cán bộ, công chức, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các thành phần kinh tế, các lĩnh vực tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2007, tiến tới hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ giai đoạn 2006-2010 của từng cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn và toàn huyện.

Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 2006, huyện và 17 xã thị trấn được nhận danh hiệu Chính quyền vững mạnh; UBND tỉnh đã tặng 2 cờ cho 2 tập thể, 2 danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, 56 bằng khen, 397 chiến sỹ thi đua cơ sở, 538 giấy khen, 1.266 người  đạt danh hiệu lao động tiên tiến.

Công tác khen thưởng, tổng kết thành tích kháng chiến theo Quyết định 98 của Thủ tướng Chính phủ, được quan tâm đôn đốc sát sao thực hiện đúng các yêu cầu theo hướng dẫn của tỉnh, đã có 1.079 người được UBND tỉnh tặng Bằng khen. Nhìn chung năm 2007, công tác thi đua khen thưởng đã thực hiện cơ bản kịp thời các nội dung công tác, tạo động lực mạnh mẽ động viên cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện, ra sức thi đua lao động sản xuất mang lại kết quả cao, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch 2007.

III. Công tác an ninh, quốc phòng, thanh tra, tiếp dân và thi hành án.

1. Quốc phòng:

Ra quân huấn luyện ở 40 cơ sở dân quân tự vệ đạt 100% kế hoạch. Tổ chức luyện tập theo các phương án cho 100% cơ sở; tổ chức diễn tập Phòng chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn tại xã Nga Quán; diễn tập chiến đấu trị an cho 2 xã Hưng Khánh, Kiên Thành đạt kết quả tốt. Thường xuyên rà soát củng cố, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ có chất lượng và duy trì hoạt động chiến đấu bảo đảm trị an, ngay tại cơ sở.                                                                    

            Tổ chức giáo dục quốc phòng cho 3.337 học sinh THPT; huấn luyện DQTV binh chủng tập trung cho 382 đồng chí. Tiến hành ra quân huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, theo đúng kế hoạch, qua đó chất lượng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên, ngày càng được nâng lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

 Động viên kiểm tra quân dự bị hạng I cho sư đoàn 355, trung đoàn 121, trung đoàn 931 đạt kết quả tốt. Đã gọi 80 công dân lên đường nhập ngũ; hoàn thành công tác chuẩn bị cho kế hoạch giao quân năm 2008.

Đã cử 13 đồng chí xã đội trưởng, xã đội phó đi học lớp chỉ huy trưởng quân sự xã, phường tại tỉnh; 28 đồng chí chính trị viên xã đội tham gia tập huấn tại trường Quân sự tỉnh; Tổ chức tập huấn cho 92 chỉ huy phó quân sự tự vệ; 271 thôn đội trưởng tại huyện.

2. An ninh:

            Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn ổn định, an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá, an ninh trong vùng dân tộc, các hoạt động về tôn giáo diễn biến bình thường.

- Công tác quản lý xuất, nhập cảnh: Hoạt động hợp pháp của người nước ngoài, trong năm có 56 đoàn với 178 lượt người, gồm 20 quốc tịch. Mục đích: thực hiện các chương trình, dự án nhân đạo, thăm thân, thương mại và du lịch.

Ngoài ra còn có 9 trường hợp xuất cảnh trái phép trở về thăm  thân, có 01 trường hợp nhập cảnh trái phép; 05 trường hợp hành nghề chữa bệnh trái phép, đã bị sử lý buộc phải rời khỏi địa bàn.

- Tình hình và công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội:

+ Tội phạm xâm phạm về trật tự xã hội: Xảy ra 37 vụ, 54 đối tượng; so với cùng kỳ năm 2006 giảm 10 vụ. Đã đưa 03 đối tượng vào cơ sở giáo dưỡng; 02 đối tượng vào cơ sở giáo dục.

+ Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và chức vụ: Qua công tác đấu tranh chống tham nhũng, đã phát hiện làm rõ 03 vụ tham ô tài sản, làm thất thoát 117,7 triệu đồng; khởi tố điều tra: 02 vụ, 01 bị can, đã có quyết định xử lý hành chính, xử lý kỷ luật 01 vụ, 01 đối tượng. Các cơ quan chức năng đã phối hợp bắt giữ 06 vụ buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn, thu giữ 48,716 m3 gỗ các loại và một số hàng hoá Trung Quốc.

+ Tội phạm ma tuý:  Đã phát hiện và bắt giữ 9 vụ, 16 đối tượng, tăng 02 vụ so với năm 2006. Lập hồ sơ quản lý 36 đối tượng nghiện ma tuý, so với năm 2006 tăng 3 đối tượng; đưa vào cơ sở chữa bệnh 11 đối tượng.

- Tình hình công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông:

+ Tại nạn giao thông tiếp tục được kiềm chế, trong năm xảy ra 11 vụ, (giảm 01 vụ so với năm 2006), chết 13 người (tăng 01 người so với năm 2006). Va quyệt giao thông 68 vụ, bị thương 113 người, làm hư hỏng 108 phương tiện.

+ Thực hiện Nghị quyết 32/CP: Đã kiện toàn Ban ATGT từ cấp huyện tới cơ sở, tăng cường sự phối hợp trong triển khai thực hiện, tập trung cho công tác tuyên truyền, công tác tuần tra, kiểm soát, đã tuần tra 299 ca, 722 lượt, 2.523 giờ, đã phát hiện, xử lý 1.298 trường hợp vi phạm, trong đó đường bộ 1.295 trường hợp, đường thuỷ 03 trường hợp; tạm  giữ 129 phương tiện.

+ Trong năm xảy ra 11 vụ cháy rừng, gây thiệt hại trên 10 ha rừng khoanh nuôi bảo vệ.

            3. Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại - tố cáo:

* Công tác thanh tra: Đã tiến hành 04 cuộc thanh tra ngân sách tại các xã Việt Thành, Văn Phú, Kiên Thành và Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đào Thịnh, kết quả thanh tra đã chỉ ra được những tồn tại trong việc quản lý ngân sách, đặc biệt đối với các khoản thu đóng góp tại xã Việt Thành, xã Kiên Thành và trường phổ thông cơ sở xã Văn Phú.

* Tăng cường công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư­ khiếu nại - tố cáo, chủ động giải quyết các vướng mắc ngay tại cơ sở. Tiếp tục duy trì và thực hiện tốt việc trực tiếp công dân, trực làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính trong ngày thứ 7 tại UBND huyện và các cơ quan chuyên môn, UBND các xã, thị trấn.

 Tại UBND huyện đã tiếp 51 lượt 73 người, nội dung chủ yếu liên quan tới lĩnh vực đất đai, chế độ chính sách và một số nội dung khác. Đã nhận 01 đơn khiếu nại kết quả giải quyết tranh chấp đất đai và 02 đơn tố cáo, trình tự giải quyết đơn thư được thực hiện đúng quy định, đẩm bảo quyền lợi của công dân.

Ngoài ra còn tiếp nhận 44 đơn đề nghị, đã xem xét, giải quyết được 32 đơn, còn 12 đơn đang tiếp tục xem xét để trả lời những kiến nghị của nhân dân.

Tại UBND các xã, thị trấn tiếp 446 lượt, 473 người. Tổng số đơn khiếu nại - tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã là 09 đơn, đã xác minh, giải quyết xong; đơn đề nghị là 154 đơn, nội dung chủ yếu liên quan tới lĩnh vực đất đai, chế độ chính sách…

4. Công tác thi hành án:

Tổng số việc phải thi hành là 576 việc, bằng 4.514 triệu đồng. Trong đó: năm trước chuyển sang 384 việc, phát sinh mới trong năm 192 việc; đã giải quyết 283 việc; số tiền đã thu hồi 2.867 triệu đồng. Nhìn chung, công tác thi hành án còn gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên kết quả bước đầu đã góp phần giữ vững an ninh, chính trị trên địa bàn.

5. Công tác t­ư pháp:

 Đã tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được 536 buổi, với 55.571 lượt người; phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý của tỉnh trợ giúp pháp lý cho 70 người, với 39 ý kiến. Toàn huyện có 279 tổ hoà giải, với 1.556 hoà giải viên, đã tổ chức hoà giải thành 196 vụ việc; giải quyết 44 hồ sơ thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xin cấp lại bản chính giấy khai sinh. Cấp xã, thị trấn đã thực hiện khai sinh cho 2.611 trường hợp; khai tử 361 trường hợp; đăng ký kết hôn 704 trường hợp; đăng ký việc cha mẹ nhận con 7 trường hợp; thay đổi cải chính hộ tịch 29 trường hợp.

IV. Đánh giá chung:

Năm 2007, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, gặp phải không ít khó khăn thách thức, như giá cả các mặt hàng phục vụ đời sống và sản xuất tăng cao, dịch bệnh ở người và trên đàn gia súc, gia cầm có nguy cơ bùng phát và lây lan; tình trạng hạn hán đầu vụ đông xuân, mưa bão gây ngập lụt cuối vụ mùa, đầu vụ đông, ảnh hưởng lớn đến sản xuất. Song, bằng sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành, sự cần cù, tích cực lao động sản xuất của nhân dân các dân tộc, sự lãnh đạo của Huyện uỷ, sự chỉ đạo điều hành tập trung, thống nhất của UBND huyện, chúng ta đã có nhiều cố gắng, chủ động đối mặt và vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội để thực hiện thắng lợi khá toàn diện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng năm 2007.

Những kết quả đó được thể hiện cụ thể là: Nền kinh tế có bước tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; sản xuất hàng hoá đã gắn được với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; các chương trình phát triển kinh tế - xã hội được triển khai đồng bộ, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, đặc biệt là khu vực đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa. Đã định hình rõ nét những vùng sản xuất chuyên canh tập trung, có hiệu quả kinh tế cao như vùng tre Bát Độ, vùng dâu tằm, vùng chè, vùng lúa chất lượng cao. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, trên cơ sở phát huy thế mạnh của địa phương, đã quan tâm tới việc mở rộng và đầu tư trở lại vùng nguyên liệu. Hệ thống giao thông thường xuyên được duy tu bảo dưỡng, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới; các công trình xây dựng đều đảm bảo tiến độ và chất lượng. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã đáp ứng yêu cầu. Đời sống văn hoá tinh thần được cải thiện, chất lượng các phong trào, các chương trình mục tiêu về văn hoá được nâng cao. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, đơn thư khiếu kiện giảm, đảm bảo ổn định chính trị, cuộc sống bình an cho nhân dân trên địa bàn.

Những thành tựu đó là kết quả của việc thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng bộ huyện Trấn Yên lần thứ XIX, với sự thống nhất cao về ý chí, về  hành động của cả Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện, sự nỗ lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đã tạo thành sức mạnh tổng hợp, để thúc đẩy kinh tế xã hội toàn huyện có sự phát triển vượt bậc.

Ngoài những kết quả đạt được, trên từng lĩnh vực còn có một số tồn tại cần khắc phục, đó là:

1. Kết quả thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế còn đạt thấp, như: Chương trình phát triển đàn bò, chương trình chuyển đổi ruộng 1 vụ.

2. Công tác quản lý và bảo vệ rừng ở một số xã còn lơi lỏng, vẫn sảy ra tình trạng cháy rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, sâm lấn đất lâm nghiệp; vai trò tham mưu của ngành Kiểm lâm cho cấp uỷ, chính quyền các cấp còn hạn chế.

3. Năng lực cạnh tranh và khả năng mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương chưa cao. Việc cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhãn mác hàng hoá còn chậm.

4. Một số công trình xây dựng cơ bản tiến độ chậm, việc thi công kéo dài; hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng xây dựng tại cơ sở còn hạn chế. Công tác giải phóng mặt bằng tại một số công trình, dự án trọng điểm còn có những vướng mắc, chưa được giải quyết dứt điểm, gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.

5. Công tác quản lý và sử dụng ngân sách tại một số xã, trường học còn có những saio sót, chưa đảm bảo theo đúng quy định của luật ngân sách.

6. Chất lượng các phong trào, chương trình mục tiêu về văn hoá chưa cao. Việc đầu tư cho lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn thấp, chất lượng khám bệnh cho nhân dân còn nhiều hạn chế, nhất là ở các trạm y tế xã; chưa có biện pháp để giảm tình trạng sinh con thứ 3. Chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp; vấn đề bảo vệ môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được quan tâm. Công tác xã hội hoá trên lĩnh vực văn hoá xã hội còn hạn chế. Việc giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ công chức cấp xã, giáo viên nghỉ chế độ còn chậm.

7. Tai tệ nạn xã hội, tệ nạn ma tuý chưa được kiềm chế vững chắc.

8. Việc tuyên truyền và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 32 của Chính phủ, chưa thường xuyên và hiệu quả còn thấp; tai nạn giao thông, vi phạm hành lang an toàn giao thông chưa được khắc phục có hiệu quả.

9. Việc thực hiện kỷ cương kỷ luật hành chính, nếp sống văn hoá ở một số cơ quan, đơn vị, một số xã chưa nghiêm.

Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém đó là:

1.       Nguyên nhân khách quan:

- Thời tiết năm 2007 diễn biến phức tạp, dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng. Giá cả thị trường không ổn định; giá vật tư đầu vào trong sản xuất nông nghiệp; giá vật liệu cho xây dựng cơ bản tăng đột biến. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp không ổn định, như: Giá trâu, bò, kén tằm giảm mạnh, đã tác động rất mạnh tới tâm lý sản xuất, kinh doanh của nông dân..

2. Nguyên nhân chủ quan:

- Một số chính quyền cơ sở chưa thực sự tích cực, năng động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; hoạt động chỉ đạo điều hành còn mang tính hành chính chung chung, thiếu sâu sát cụ thể, nên hiệu quả công việc, hiệu lực điều hành chưa cao. Hoạt động của một bộ phận cán bộ công chức còn yếu, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu năng động sáng tạo, chưa sâu sát cơ sở, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, đoàn thể và UBND một số xã, thị trấn còn yếu, chưa tạo được sức mạnh thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ.

- Do việc điều động, luân chuyển cán bộ, cộng với việc chờ chỉ đạo của tỉnh trong việc sắp xếp lại các phòng, ban chuyên môn theo đề án của Chính phủ, nên việc kiện toàn củng cố cán bộ quản lý và biên chế của một số phòng, như Thanh tra huyện, phòng Dân tộc và Tôn giáo, phòng Văn hoá Thông tin và Thể thao bị chậm, đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện nhiệm vụ, của các đơn vị và khó khăn trong công tác điều hành.

- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các cơ chế chính sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội đến với người dân còn hạn chế. Việc vận dụng và cụ thể hoá các Nghị quyết của Đảng bộ huyện, Nghị quyết của HĐND huyện, các đề án phát triển kinh tế vào điều kiện cụ thể của một số địa phương còn yếu, đặc biệt là các xã có lợi thế phát triển gần với thành phố Yên Bái.

 

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NĂM 2008

A. Mục tiêu tổng quát:

Năm 2008, với mục tiêu là “phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân”, để đạt được mục tiêu đó cần tập trung phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, trường học, nhà văn hoá thôn bản; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và khám chữa bệnh cho nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao năng lực xoá đói giảm nghèo; đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền các cấp.

B. Các chỉ tiêu chủ yếu:

I. Về kinh tế:

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phấn đấu đạt 13,1% trở lên, trong đó:

+ Ngành nông lâm nghiệp tăng 6,9%;

+ Ngành công nghiệp - xây dựng tăng 16,7%;

+ Thương mại - dịch vụ tăng 17,2%.

2. Cơ cấu kinh tế:

+ Ngành nông lâm nghiệp chiếm 36,1%;

+ Ngành công nghiệp - xây dựng 33,2%;

+ Thương mại - dịch vụ 30,7%.

3. Thu nhập bình quân đầu người đạt 7 triệu đồng/năm trở lên.

4. Tổng sản lượng lương thực có hạt: 31.914 tấn.

- Cây lúa: diện tích gieo cấy 6.065,9 ha, năng suất bình quân 47,5 ta/ha; sản lượng thóc 28.819 tấn; trong đó: diện tích lúa chất lượng cao đạt 1.850 ha, sản lượng 8.317,5 tấn.

            - Cây ngô: 1.122 ha, năng suất: 27,6 tạ/ha; sản lượng: 3.095 tấn.

Trong đó: Ngô vụ đông là 720 ha (Ngô trồng trên đất 2 vụ lúa 500 ha), năng suất 27 tạ/ha, sản lượng 1.944 tấn.

            - Cây sắn 1.000 ha; năng suất 120 tạ/ha; khoai lang 301 ha; đao giềng 45 ha; rau các loại 972 ha (trong đó vụ đông 492 ha); đậu tương 200 ha; lạc 120 ha; khoai tây 100 ha.

5. Trồng, cải tạo 105 ha chè (trong đó trồng cải tạo bằng giống chè chất lượng cao 100 ha; trồng mới 5 ha chè Shan),  sản lượng chè búp tươi đạt từ 17.000 tấn trở lên.

6. Trồng mới 50 ha dâu.

7. Về chăn nuôi - thuỷ sản:

- Chăn nuôi: tổng đàn trâu 12.800 con, đàn bò 7.500 con, đàn lợn 65.000 con, đàn gia cầm 640.000 con.

- Thuỷ sản: diện tích nuôi trồng 348 ha, chuyển đổi 10 ha diện tích ruộng 1 vụ, nuôi ổn định 370 lồng cá.

8. Trồng 1.800 ha rừng, trong đó quế 200 ha,  măng tre Bát độ  100 ha; duy trì độ che phủ rừng ở mức 68%; giao khoán bảo vệ: Rừng tự nhiên: 10.160,40 ha, rừng trồng phòng hộ 430,40 ha.

9. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương đạt 59,57 tỷ đồng (giá cố định) và bằng 81,79 tỷ đồng (giá hiện hành). Tổng mức bán lẻ hàng hoá 240 tỷ đồng.

10. Thu ngân sách: phấn đấu thu cân đối đạt 15,8 tỷ đồng (trong đó tiền giao đất đạt 5,3 tỷ đồng), tăng 5,6% so với kế hoạch tỉnh giao.

II. Văn hoá - xã hội:

11. Phấn đấu xây dựng 02 trường đạt chuẩn quốc gia (trường Tiểu học Hưng Khánh số 1 và trường Tiểu học Lương Thịnh số 1), nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia toàn huyện lên 6 trường.

12. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 20,5%;

13. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắcxin đạt 98%;

14. Số xã có Bác sỹ là 20 xã;

15. Duy trì các xã đã đạt chuẩn quốc gia về y tế; xây dựng thêm 3 xã Việt Hồng, Việt Cường và thị trấn Cổ Phúc.

16. Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh là 80% dân số.

17. Giảm  tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 16,58%.

18. Đưa 250 lao động đi làm việc tại nước ngoài.

19. Xây dựng 30 nhà văn hoá thôn, bản trở lên.

20. Phấn đấu công nhận 20 làng văn hoá,162 đơn vị, 19.500 gia đình văn hoá.

21. Tỷ lệ người dân được nghe Đài phát thanh, xem truyền hình là 90%.

22. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân năm 2008 theo kế hoạch của tỉnh.

            C. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:

            I. Về phát triển kinh tế:

1. Trong sản xuất nông lâm nghiệp:

Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ theo hướng tập trung và sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích. Gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, kết hợp với tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học về giống cây, con đảm bảo sản xuất bền vững và có sức cạnh tranh trên thị trường.

 Tập trung vào một số lĩnh vực sau:

- Mở rộng diện tích lúa chất lượng cao, phân vùng sản xuất tập trung gắn với bao tiêu sản phẩm.

- Tiếp tục phối hợp với Công ty cổ phần dâu tằm tơ Trấn Yên, tổ chức tốt khâu khảo sát, quy hoạch, vận động nhân dân dồn điền đổi thửa, chuyển đổi đất đai, huy động và sử dụng có hiệu quả các cơ chế chính sách của tỉnh, các nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng diện tích trồng dâu và nuôi tằm. Xây dựng làng nghề truyền thống theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX.

- Chăm sóc tốt diện tích chè để có năng suất, sản lượng ổn định. Tập trung chỉ đạo và quản lý tốt việc thu mua, chế biến, xây dựng thương hiệu và quảng bá chè chất lượng cao. Chuẩn bị tốt khâu giống, để đảm bảo cho kế hoạch trồng cải tạo năm 2008.

- Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo việc giao đất lâm nghiệp xong trong quý 2 năm 2008, đảm bảo đúng chủ trương, chính sách, đối tượng, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồi rừng và sử dụng có hiệu quả đất lâm nghiệp. Phối hợp với Công ty TNHH Vạn Đạt, tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu tre măng Bát độ, chăm sóc tốt diện tích đã có và tiêu thụ ổn định sản phẩm cho nông dân.

- Đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt là chăn nuôi bò và phát triển cá lồng tại một số xã trọng điểm; tiếp tục thực hiện chương trình chuyển đổi ruộng 1 vụ, mở rộng diện tích nuôi cá rô phi đơn tính kết hợp nuôi ếch Thái Lan. Tiếp tục quan tâm chỉ đạo phát triển đàn bò theo hướng: Củng cố và nâng cao chất lượng đàn bò hiện có, kết hợp với việc huy động các nguồn vốn vay ưu đãi và cơ chế chính sách của tỉnh, để tăng nhanh đầu đàn. Giữ vững và ổn định đàn trâu, chú trọng phòng chống dịch lở mồm long móng, dịch cúm gia cầm, để đảm bảo ổn định đàn gia súc, gia cầm.

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi ở các xã, các vùng có điều kiện khó khăn, gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân.

2. Về công nghiệp, giao thông, xây dựng cơ bản và thương mại - dịch vụ:

- Cụ thể hoá và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư của tỉnh trên địa bàn, giảm tối đa các thủ tục hành chính phiền hà, vận dụng cơ chế chính sách của tỉnh phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, để các doanh nghiệp vào đầu tư trên tất cả các lĩnh vực. Quản lý tốt chất lượng các sản phẩm đã hình thành thương hiệu của địa phương, như: chè Bát tiên, măng Bát độ, miến đao và gạo chất lượng cao. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư theo hướng gắn chế biến, tiêu thụ sản phẩm với đầu tư vào vùng nguyên liệu. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để hình thành cụm công nghiệp của huyện và các cụm công nghiệp của tỉnh trên địa bàn. Quản lý và khai thác có hiệu quả một số sản phẩm có lợi thế của địa phương như: Sản phẩm chè, gỗ rừng trồng, vật liệu xây dựng... để đẩy nhanh giá trị sản xuất công nghiệp.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý chặt chẽ việc sử dụng các nguồn vốn, nâng cao hiệu quả giám sát của cộng đồng về chất lượng các công trình xây dựng.

- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào làm đường giao thông nông thôn với phương châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm. Xây dựng Đề án phát triển giao thông nông thôn năm 2008 và giai đoạn 2008 - 2010, làm cơ sở cho việc huy động các nguồn lực của địa phương, nhằm đẩy mạnh phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn.

- Tiếp tục quy hoạch, huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển khu du lịch Việt Hồng - Vân Hội - Minh Quân.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ và sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã; khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế hợp tác xã và kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các lĩnh vực.

- Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp.

3. Về tài chính - ngân hàng:

- Quản lý chặt chẽ và khai thác tốt các nguồn thu, nhất là thu từ đất để tăng nhanh nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

- Tăng cường các biện pháp chống thất thu và hạn chế nợ đọng thuế; Làm tốt công tác quản lý, kiểm tra tài chính từ huyện xuống cơ sở; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Thực hiện tốt việc dân chủ, công khai trong quản lý và sử dụng ngân sách.

- Các ngân hàng và quỹ tín dụng, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn; tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế và nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa được tiếp cận được với các nguồn vốn, để đầu tư sản xuất, kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ.

II. Về văn hoá - xã hội:

            1. Hoạt động văn hoá thông tin và tuyên truyền:

            - Đa dạng hoá hình thức và nội dung tuyên truyền, tập trung tuyên truyền cho các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chú trọng các hình thức tuyên truyền trực quan ở các xã vùng sâu, vùng xa.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của các làng, bản văn hoá; đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; phát huy tốt hiệu quả của các thiết chế văn hoá đã có từ huyện tới cơ sở; gắn xây dựng làng văn hoá với các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội khác, như: Xây dựng xã chuẩn y tế và thực hiện các chính sách xã hội, chính sách phát triển kinh tế.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá ngoài xã hội; Nâng cao chất lượng và thời lượng phát sóng phát thanh, truyền hình, đa dạng hoá các hình thức cung cấp thông tin.

- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong lĩnh vực thể thao; tăng cường công tác tuyên truyền, mở rộng các Làng văn hoá sức khoẻ và phong trào Toàn dân luyện tập thể dục thể thao.

2. Về giáo dục:

- Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” với bốn nội dung do ngành Giáo dục phát động. Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập; có biện pháp tuyên truyền vận động không để học sinh bỏ học. Từng bước nâng cao chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ giáo viên các cấp.

- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, mở rộng các mô hình khuyến học. Tiếp tục xây dựng các trường đạt chuẩn quốc gia; duy trì tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học và THCS. Huy động mọi nguồn lực để tiếp tục nâng cấp cơ sở trường lớp, giải quyết tốt nhu cầu về nhà ở giáo viên và lớp học bán trú cho các xã đặc biệt khó khăn.

- Rà soát sắp xếp lại đội ngũ giáo viên, tiếp tục tập trung giải quyết dứt điểm việc nghỉ chế độ, nghỉ theo Nghị định 132 của Chính phủ đối với giáo viên đủ điều kiện để từng bước bố trí tạo điều kiện cho giáo viên hợp đồng, giáo viên đạt chuẩn vào biên chế, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

3. Về y tế, dân số, gia đình  & trẻ em:

- Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân; chủ động nâng cao khả năng phòng chống dịch bệnh, phòng chống ma tuý, HIV- AIDS; đẩy mạnh xã hội hoá công tác y tế, nâng cao chất lượng hoạt động và tiếp tục xây dựng các xã đat chuẩn quốc gia về y tế. Làm tốt công tác khám chữa bệnh cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí và tiêm chủng cho trẻ em dưới 6 tuổi. 

- Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác truyền thông, kết hợp công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình với bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và phong trào xây dựng gia đình văn hoá ấm no, hạnh phúc. Tăng cường đưa các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình tới các vùng sâu, vùng xa.

4. Công tác dân tộc và tôn giáo:

- Thực hiện tốt chính sách của nhà nước đối với đồng bào vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK. Trong đó ưu tiên cho công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho hệ thống cán bộ cơ sở, để làm tốt công tác quản lý và thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo; tiếp tục hướng dẫn các cơ sở tôn giáo hoạt động theo đúng Nghị định 22 của Chính phủ.

5. Lĩnh vực chính sách xã hội - giải quyết việc làm:

- Tiếp tục thực hiện tốt công tác chi trả, chăm sóc, giải quyết khen thưởng với các đối tượng được hưởng chế độ chính sách và người có công.

- Giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và các vấn đề xã hội khác, quan tâm phát triển lao động tham gia trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, để tiếp tục làm tốt công tác xuất khẩu lao động.

            III. Công tác an ninh, quốc phòng, thanh tra, tư pháp và thi hành án:

            1. Quốc phòng:           

 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cách mạng cho nhân dân và lực lượng vũ trang. Tăng cường công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng huấn luyện dân quân tự vệ, đảm bảo sẵn sàng chiến đấu và đáp ứng mọi yêu cầu về nhiệm vụ an ninh, quốc phòng trong tình hình mới; nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng toàn dân. Tổ chức giao quân năm 2008 đảm bảo yêu cầu về chất lượng và số lượng. Tổ chức diễn tập phòng chống lụt bão - giảm nhẹ thiên tai 2 cấp huyện, xã theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. An ninh:

 Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống; từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm hình sự, tội phạm ma tuý, buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; tiếp tục thực hiện các giải pháp để kiềm chế tai nạn giao thông và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 32 của Chính phủ.

3. Thanh tra, tư pháp: 

- Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực, ngăn chặn nạn quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, vi phạm các quy định của nhà nước. Phát huy vai trò của Thanh tra nhân dân, Ban Mặt trận và các tổ chức Đoàn thể, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai và sử dụng ngân sách.

- Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại - tố cáo để đảm bảo quyền lợi của công dân, chú trọng tới công tác hoà giải ngay tại cơ sở; gắn trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng - chính quyền, các cơ quan chuyên môn vào việc giải quyết khiếu nại - tố cáo. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và thi hành án. Từng bước giải quyết dứt điểm những khiếu nại - tố cáo liên quan đến đất đai, không để tồn đọng, gây bức xúc trong nhân dân.

            IV. Về một số công tác khác:

1. Công tác thi đua - khen thưởng:

Tiếp tục bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong năm 2008 và giai đoạn 2006 - 2010. Các cấp, các ngành, các đoàn thể cần phát động phong trào thi đua sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân với nội dung, tiêu chí, tiêu chuẩn thi đua cụ thể, phù hợp từng đối tượng. Mọi hoạt động đẩy mạnh theo hướng thực hiện tốt Chỉ thị 39 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về đổi mới phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến. Hướng công tác thi đua - khen thưởng về cơ sở và người lao động, nhằm động viên phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, lập thành tích thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi Thi đua ái quốc 11/6/1948 -11/6/2008.

2. Về đẩy mạnh cải cách hành chính, bộ máy chính quyền, thực hành tiết kiệm và phòng chống tham nhũng.

            - Đẩy mạnh cải cách hành chính sâu rộng và toàn diện, khắc phục bệnh hình thức; đảm bảo công khai, tăng cường dân chủ, rút ngắn thời gian giải quyết công việc hành chính công. Thực hiện nghiêm túc việc trực làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính trong ngày thứ 7 tại UBND huyện, các cơ quan, đơn vị chuyên môn và UBND các xã, thị trấn. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả giao dịch 1 cửa liên thông giữa Chi cục thuế - Phòng Tài nguyên và Môi trường.

- Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức của các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn. Nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện tốt công tác phối hợp của UBND các xã, thị trấn và các cơ quan chuyên môn trong việc quản lý và sử dụng cán bộ công chức cấp xã.

            - Tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà nước trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị và những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm, như: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý ngân sách, tài sản công.

            - Kiện toàn một số phòng ban theo đề án của Chính phủ và kế hoạch của UBND tỉnh.

3. Về công tác điều hành của chính quyền.

            - Thực hiện tốt quy chế hoạt động và đổi mới sự điều hành của chính quyền các cấp, nêu cao vai trò và tinh thần trách nhiệm của các Thành viên UBND, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ, công chức trong mỗi cơ quan, đơn vị. Nâng cao vai trò của người đứng đầu, phát huy dân chủ tập trung, tạo sự đồng thuận, thống nhất và quyết tâm cao trong chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

- Bám sát các nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xây dựng chương trình công tác hàng tháng, hàng quý và cả năm của UBND các cấp, phân công cụ thể rõ ràng, gắn trách nhiệm của các thành viên UBND, các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn, đội ngũ cán bộ, công chức trong việc chỉ đạo và thực hiện trên từng lĩnh vực, từng chương trình, đề án cụ thể.

- Tăng cường công tác phối hợp với Thường trực HĐND và Uỷ ban MTTQ, các đoàn thể từ huyện xuống cơ sở từ công tác triển khai, đến kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ tại địa phương; thực hiện tốt quy chế dân chủ ngay tại cơ sở.

            Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng năm 2007; phương hướng và giải pháp thực hiện nhiệm vụ năm 2008./.

 

 

Tệp đính kèm

 
Cổng giao tiếp điện tử Tỉnh Yên Bái
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
- Giấy phép số: 99/GP-TTDT Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - ngày 03/08/2009
- Người chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Giám đốc sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Yên Bái
- Địa chỉ: Tổ 55, Phường Đồng Tâm, TP Yên Bái, Tỉnh Yên Bái - Điện thoại: 029. 3858.959
- Email: Banbientapcong@yenbai.gov.vn
- Ghi rõ nguồn gốc Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Yên Bái khi khai thác thông tin từ trang này
Công nghệ áp dụng