Giới Thiệu  

   LỊCH SỬ VĂN HÓA      

            Huyện Yên Bình xưa kia là một vùng của nước Văn Lang, rồi thuộc Tượng quận, Giao chỉ, Vào thời Trần, huyện Yên Bình ngày nay là trại Thu Vật thuộc châu Tuyên Quang. Sang thời Lê, được nâng cấp thành châu lệ vào phủ Yên Bình,trấn Tuyên Quang. Một thời của châu Thu Vật được ghi nhận đâm nét trong Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí. Sơ lược như sau :

Suốt hai thế kỷ XVII-XVIII, Đại Đồng trở thành trấn lỵ khi Gia Quốc Công Vũ Văn Mật nối quyền cai trị. Sách Đại việt sử ký toàn thư có chép: " Nhờ có tài linh dinh khôn khéo của anh em họ Vũ, xứ Đại Đồng trở thành một miền trù mật. Nhân dân các trấn miền xuôi trốn loạn đến đó làm ăn rất đông. Đồng thời nhiều thương nhân đến đấy buôn bán lâm sản".

Khi đó, Nguyễn Hãng đã mô tả cảnh sắc nơi đây qua bài Phú Phong cảnh Đại Đồng như sau:

" Chưng xem:

Đặc khí thiêng liêng

Nhiều nơi thanh lạ

Non Xuân Sơn cao thấp triều tây

Sông Trôi Thuỷ quanh co nhiễu tả

Nghìn tay chìa cánh phượng, dựng thuở hư không

Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá

Đùn đùn non yên ngựa, mấy trượng khoẻ thế kim thang

Cuồn cuộc thác Con Voi, chín khúc bền hình quan toả"

Toàn bộ diện mạo Phố cát - Đại Đồng đã hiện lên với lâu đài kề nước; Hây hây ngõ hạnh tường đào ra nơi thành thị, ô dù ngựa xe dong đường thiên lý, đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, khắp nơi ca xướng thái bình. Nói thời kỳ này sách Đại nam nhất thống chí đã ghi nhận: " Phố Đại Đồng người đông hàng nhiều, buôn bán tấp nập, gạo trắng nước trong, cũng là nơi đô hội".

Trong ký ức dân gian cũng lưu lại bóng dáng của Yên Bình ngày xưa:

* Nhiều tiền chợ Ngọc chợ Ngà

Ít tiền lơ lửng Thác Bà, Thác Ông

*Muốn ăn gạo trắng nước trong

Thì lên phố Cát Đại Đồng cùng anh.

*Nhiều tiền thì buôn sông Cả

Ít tiền buôn ngả sông Thao

Chẳng có đồng nào thì về sông Chảy…

Đến cuối thời Lê, bộ mặt của Yên Bình không còn giữ được vẻ phồn thịnh như cũ nữa. Theo Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục thì khi đó châu Thu Vật là địa phận nhỏ hẹp, xã thôn nhỏ, nhân dân phần nhiều nghèo túng. Những con đường thiên lý xưa từ Đại Đồng vượt qua ngòi Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà lên Nhân Mục hoặc qua ngòi Lòi đến Cẩm Ân, Đồng Lạng hoặc đường Đại Đồng đến Hoàng Loan Thượng, Mông Sơn…cỏ đã mọc đầy. Thành Hoàng Loan chỉ còn dấu tích. Thành Việt Tĩnh gồm nhiều tường lỹ với hồ sen, dinh thự đều bỏ rậm làm hầm hố của hùm beo. Thanhg Bạch chỉồcn gò Tiền, gò Lúa. Chùa Minh Pháp chỉ còn lại tấm bia Cung điền Minh Pháp tự lập bi  dựng năm 1619. Hệ thống 99 giếng vuông kè gạch bị vùi lấp trong cây cỏ bạt ngàn. Các dấu vết Học từ ở Hoàng Loan Hạ, đền Gia Quốc Công ở Đại Đồng, đền Minh Đạt công chúa ở Đạo Ngạn, đền Cao Biền ở sơn phận Vũ Linh…chỉ còn mờ nhạt trong đổ nát của gạch ngói rêu xanh.

 Sang thời Nguyễn, sự phồn thịnh của châu Thu, châu Vật ( phủ Bình ) ngày càng suy giảm. Lỵ sở của phủ chuyển tới Hoàng Loan Hạ và châu Thu Vật đổi gọi là châu Thu của tỉnh Tuyên Quang. Từ 7 tổng 38 xã, lập thêm tổng mới Cảm Ân từ tổng Ẩm Phúc, đưa lên thành 8 tổng 39 xã như sau:

- ẨM PHÚC (Ẩm Phúc, Dương Liễu, Kế Khê, Võ Tha).

- CẢM ÂN (Cảm Ân, Đồng Lượng, Minh Thành, Phiếm Ái, Phụ Thành)

- CẢM NHÂN (Bình Hanh, Cảm Nhân, Mỹ Gia, Tích Cốc)

- ĐẠI ĐỒNG (Đại Đồng, Đại Đồng phường, Hoàng Loan Hạ, Hoàng Loan Thượng, Hoàng Loan Trung, Khuôn sơn, Vữ Khê)

- ĐẠO NGẠN (Duyên Gia, Đông Lý, Ký Mã, Đạo Ngạn)

- MÔNG SƠN (Lãnh Thuỷ, Mông Sơn, Vạn Lại, Xuân Lôi)

- NGỌC CHẤN (Bình Mục, Hướng Dương, Ngọc Chấn, Dịch Dương, Thu Vật, Xuân Sinh)

- VĨNH KIÊN (Bạch Hà, Vĩnh Kiên, Phục Lễ, Vũ Linh, Yên Thịnh)

Dưới thời Pháp thuộc, địa phương có lúc nằm trong chế độ quân quản, khi thì ở quân khu miền Tây (1885-1890);lúc thì thuộc đạo quan binh thứ ba Yên Bái( 1891-1900). Nhìn chung, các đơn vị hành chính cấp tổng và xã không đổi chỉ có tên Châu Thu đổi là phủ Yên Bình.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với việc đổi phủ thành huyện giải tán cấp tổng. Cả huyện Yên Bình lúc bấy giờ có 39 xã. Sau khi hoà bình lập lại, do việc thành lậo khu tự trị Việt bắc, ngày 1.7.1956 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ công hoà ra Sắc lệnh số 268-SL chuyển Yên Bình sáp nhập vào tỉnh Yên Bái khi đó nằm ở khu Lao - Hà – Yên.

Do việc chuyển dân xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác bà, ngày 28/1/1967, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ đã ra quyết định số 24-NV về việc giải thể các xã Yên Bình, Bình An, Văn Chính, An Thọ, Ẩm Phúc, Chính Tâm, Yên Vượng, Đồng Thái, An Dương, Dương Liễu, Hiệp Hoà, Đông Thanh, Đại Đồng, Minh Phú, Tân Thành, Vĩnh An, Tích Trung, Đồng Tâm, Đông Lý. Tại Quyết định này, xóm Mạ vốn thuộc xã Đại Đồng và xóm hồng Bàng vốn thuộc xã Đông Lý đưa vào xã Hương Lý.

Ngày 16/2/1967, Bộ trưởng Bộ Nội vụ  ra Quyết định số 51/NV  chia tách xã Vũ Linh, Vĩnh Kiên, Cảm Nhân. Đồng thời, hai xã Hán Đà, Đại Minh của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ được bàn giao sang huyệnYên Bình. Ngày 32/2/1977, Bộ trưởng Văn Phòng phủ Thủ tướng ra quyết định 661/VP18 về việc thành lập thị trấn Thác Bà. Năm 1981 huyện lỵ Yên Bình được chuyển tf Thị trấn Thác Bà đến xã Phú Thịnh. Năm 1985 thành lập Thị trấn Yên Bình. Năm 2008, huện Yên Bình nhận bàn giao xã Văn lãng từ huyện Trấn Yên. Đến nay, toàn huyện bao gồm 26 đơn vị hành chính như sau:

- Thị trấn: Yên Bình, Thác Bà.

- Các xã: Xuân Long, Ngọc Chấn, Tích Cốc, Tân Nguyên, Phúc Ninh, Mỹ Gia, Cẩm Nhân, Bảo Ái, Cẩm Ân. Xuân Lai. Tân Hương, Mông Sơn, Yên Thành, Đại Đông, Phúc An, Phú Thịnh, Vũ Linh, Bạch hà, Thịnh Hưng, Vĩnh Kiên, Yên Bình, Hán Đà, Đại Minh, Văn Lãng.

 Sau công cuộc chuyển dân, toàn huyện chỉ còn lại 9 xã giữ được tên cũ. Tuy nhiên, do việc di dân lập xã mới để giải phóng lòng hồ, ngoài một số địa danh bị huỷ bỏ, một số địa danh còn được bảo lưu song vị trí đã bị dịch chuyển. Cùng với nó, nhiều dấu vết về thành luỹ, đền chùa cũng không còn tồn tại trên thực tế.

 Về địa lý, Yên Bình nằm trong một khu đồi và núi thấp rộng lớn thuộc thung lũng sông Chảy. Ỏ đây ít có đỉnh cao trên 1.000m mà chỉ sàn sàn 500-600m so với mặt biển. Sự giảm độ cao đột ngột này được giải thích bằng việc do địa khối nâng lên và là nhân cấu trúc của toàn miền Đông Bắc được cấu tạo chủ yếu bằng phiến đá, đá cát kết, đá phiến kết tinh và các đá biến chất khác trải qua một thời kỳ bóc mòn lâu dài nên đỉnh núi bị san bằng và sườn không còn độ dốc lớn nữa. Có thể bắt gặp những dãy núi đá vôi có khi hoá thạch thành đá hoa ven sông Chảy. Ở một số vùng có những khoảng đát rộng bao gồm gò đồi thấp và nhiều mặt bằng thung lũng được khai phát thành nương ngô hoặc ruộng lúa. Phía chân trời, núi khép kín lại với các khoảng rừng tương đối rậm rạp mặc dù các thung lũng núi còn khá rộng, làm cho sự giao lưu trong vùng không khó khăn lắm. Từ thung lũng sông Chảy muốn ra thung lũng sông Hồng phải vượt qua dãy Con Voi có độ cao trung bình trên 1.000 mét. Trong phạm vi của huyện, đáng kể nhất chỉ có ''núi Biền Sơn, ở cách ly sở phủ Yên Bình 5 dặm về phía đông, hai ngọn song song nổi cao theo một dãy, trên có đền thờ Cao Vương"

Đặc trưng khí hậu của huyện là nhiệt đới gió mùa ( nóng, ẩm, thay đổi trong nhiều mùa). Bên cạnh những thuận lợi lớn làm cho các giống loài phát triển nhanh chóng và phong phú, tạo nên tính đa dạng sinh học trong vùng địa phương còn gánh chịu nhiều hậu quả do đặc điểm thời tiết gây ra. Mùa đông, nhiều đợt rét buótt tràn về, gây ra sương muối tác hại cho cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Mùa hè, tuy bão tố không ảnh hưởng nhưng gió lốc thường xuất hiện, phá mùa màng và nhà cửa.

Chế độ thuỷ văn của huyện đặc biệt phong phú nhờ có sông Chảy, hồ Thác Bà cùng hệ thống sông suối dày đặc.

Sông Chảy là một phụ lưu lớn của sông Lô - còn gọi là Trôi Thuỷ hoặc sông Đạo Ngạn, hàng năm sông Chảy vận chuyển 5,3 tỷ m3 nước từ Minh Chuẩn ( Lục Yên) qua hồ Thác Bà tới Hán Đà với nhiều ghềnh thác tạo nguồn thuỷ văn lớn.

Hồ Thác Bà có diện tích 23.400ha, trong đó mặt nước chiếm tới 19.000ha, còn lại 1.331 hòn đảo lớn nhỏ, chiều dài của hồ là 80 km, chiều rộng từ 5-15km, sâu từ 15-34m, chứa được 3-3,9 tỷ mét khối nước. Ngoài sông Chảy, còn có hệ thống duối ngòi lớn nhỏ đổ vào hồ như ngòi Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà, ngòi Lòi, ngòi Dầu, ngòi Cát, ngòi Úc, ngòi Biệc… chứa lươngj phù sa và thức ăn cho thủy sinh vật phát triển. Hồ có 130 loài cá tự nhiên có giá trị kinh tế cao ( trôi, chép, măng, ngão, quả, vền, nhưng ,ngạnh, chiên, lăng, quất, bống tượng…) tạo nguồn đặc sản xuất khẩu ( ba ba, trê phi, trê lai, lươn, ếch) Hơn thế nữa, Hồ Thác bà có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ và cải tạo môi trường, làm giảm nhiệt độ mùa hè xuống 1-20c, tăng độ ẩm tuyệt đối mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700mm, tạo điều kiện cho thảm thực vật xanh tốt 4 mùa, rất thích nghi cho nghề trồng chè năng suất cao. Đây còn là nguồn thuỷ năng đối với nhà mgáy thuỷ điện Thác Bà công suất 108.000KW/h

Cũng cần phải thấy một diểm đặc sắc của vùng thung lũng sông Chảy là mạng sông duối dày đặc kiến chô địa hình bị chia cắt dữ dội. Vào mùa mưa, nước ồ ạt từ các đồi núi chảy trán xuống các sông suối làm nước lũ lên rất đột ngột. Khi mùa khô hanh đến, nhiều suối nhỏ bị khô cạn, trơ lại đá tảng và cuội sỏi.

Yên Bình cũng là huyện có nhiều tiềm năng về rừng và khoáng sản. Trên dãy Con Voi, núi Ngàng, núi Yến vừa có nhiều gỗ quý và muông thú như lát ( Xuân Long, Bạch Hà), nghiến ( Tích Cốc, Cảm Nhân), đinh, lim,  sến, táu ( Tân Nguyên, Bảo Ái, Tân Hương) lim xanh ( Hán Đà) cùng các laọi động vật như hươu nai, khỉ, lợn rừng, hổ, gấu, gà lôi, khiếu, vẹt, gâu. Hệ thống đồi gò thích hợp cho việc trồng chè, cà phê, bồ đề. Các dãy đá vôi là nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất xi măng,đá xây dựng. Ngoài ra còn có cao lanh, đá Fen Fát, đất sét ở Đại Minh và đá quý ở nhiều nơi. Tài nguyên đất gồm hệ đất phù sa hình thành trên nền địa chất đa dạng ở các địa hình miền đồi núi.

 Thị trấn Yên Bình nằm trên quốc lộ 70 song song với sông Chảy, xuôi xuống Đoan Hùng ( Phú Thọ) và ngược lên Lục Yên; Lao Cai; quốc lộ nối huyện lỵ với thị trấn Yên Bái dài 13 km. Hệ thống đường phía đông hồ Thác Bà được hình thành từ công trường Đỏ của những năm 70; theo thiết kế toàn tuyến dài 61 km, là mạch máu giao thông nối liền hạ huyện với thượng huyện. Đường này xuất phát từ thị trấn Thác Bà đi qua Vĩnh Kiên, Vũ Linh, Phúc An, Yên Thành, Xuân Lai, Mỹ Gia, Cẩm Nhân, Ngọc Chấn, Xuân Lông nối liền với Minh Tiến ( Lục Yên).

Công nghiệp và thủ công nghiệp đã có nền  tảng và hứa hẹn cho một tiềm năng tiềm tangd. Nhà máy thuỷ điện Thác Bà hoà mình vào mạng lưới điện quốc gia, hàng năm sản xuất được 420 triệu KW/h.. Hai Nhà máy Xi Măng ( Nhà matý xi măng Yên Bái và Nhà máy xi măng Vinaconnex Yên Bình mỗi năm sản xuât trên 1 triệu tấn; Nhà máy chế biến chè Văn hưng sản xuất hàng năm được 1.500 tấn chè khô xuất khẩu.  Giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp địa phương năm 2008 cũng đã đạt mức trên 150 tỷ với nhiều sản phẩm phong phú  như bột đã các bon nát can xi; đá cát, sỏi xây dựng; các sản phẩm cơ khí; các sản phẩm chế biến từ gỗ rừng trồng; sản phẩm bao bì, ống nhựa PR và tấm lợp sinh học...

Lâm nghiệp được tập trung đầu tư vào việc khoanh nuôi bảo vệ rừng trồng ở khu vực các núi Cao Biền, Chàng Rể, Thái Bảo, Ngàng, Yến( rừng hỗn giao gồm đinh, lin, sến, táu, chò chỉ, trám, ràng ràng, mỡ, keo); hạn chế trồng rừng bồ đề thuần loại, khuyến khích trồng trem vầu, luồng Thanh Hoá. Phấn đấu mỗi năm trồng mới 1.500ha rừng trong đó có từ 300-500 ha rừng quế, trọng điển là sường Cao Biền giáp hồ Thác Bà. Trên địa bàn của huyện có hai lâm trường (Yên Bình, Thác Bà) thu hút hàng trăm lao động.

Nông nghiệp là thế mạnh, cũng là nghề truyền thống của cư dân Yên Bình, thu hút tới 90% dân cư dân trên địa bàn của huyện. Theo Đại Nam nhất  thống chí thì từ xa xưa, cư dân của " Châu Thu và châu Lục Yên hàng năm cứ đến tháng 4, tháng 5 gieo mạ; tháng 6, tháng 7 cấy và gặt vào tháng 10, tháng 11. Nhà nông thường xem ngày 8-4 có mưa hay không để xếp đặt công việc làm ruộng cũng xó phần ứng nghiệm. Có câu ngạn ngữ rằng: "- Mồng 8 tháng 4 không mưa, ruộng trũng đừng bừa đi phát  ruộng cao”

Trong quá trình lao động sản xuất, người dân Yên Bình đã tạo ra nhiều đặc sản nổi tiềng khắp vùng:

- Cam An Thọ, cọ Đông Lý

- Lúa Bạch Hà, gà Linh Môn

- Cơm làng Má, cá Đào Kiều

Đồng ruộng phì nhiêu, đất đai mầu mỡ, con người giàu kinh nghiệm thâm canh lúa nước. Tự bao đời nay, người dân thạo đắp phai, làm cọn để đưa đất vào ruộng, đào ao nuôi cá, phát nương trồng lúa để rợ vụ. Những khi nông nhần lại đan lát, dệt vải, làm vườn, đánh cá, trổ bè hoặc giao lưu giữa vùng này với vùng khác. Khi thì bồng bềnh bè mảng trên sông, chở thóc gạo, lâm sản, gia súc đến chợ Phủ, chợ Ngọc, chợ Ngà, lúc nào thì gồng gánh nặng vai đôi dậu với gói xôi nếp và túi đựng trầu cau, ngược xuôi các vùng sông Chảy đến làng Bạc, làng Múc, làng Nồi để thông thương sản vật, những câu ca của người Tày từ bao đời nay như bảo lưu những kỷ vật và một thời buôn bán tấp nập:

- Làng Múc Khai cuôi ( bán sọt)

- Làng Nồi Khai bẳng ( bán ỗng bương )

-Tổng Tâm khai măc chanh ( bán quả chanh )

Bình Hanh khai mằn bủng ( bán khoai lang )

Hiện tại, toàn huyện có 4.300 ha trồng lúa (2.010  ha vụ đông xuân, 2.290 ha vụ mùa), bình quân mỗi người 200 m2 cày cấy, phần lớn lại là đồng ruộng chằm thụt. TRong những năm gần đây, Yên Bình đã chuyển đươc trên 400 ha ruộng 1 vụ thành 2 vụ, gần 1000 ha ruộng 2 vụ thành 3 vụ; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi vùng trọng điểm lúa ( Vũ Linh, Bạch Hà, Vĩnh Kiên, Yên Bình) xây dựng thêm nhiều thuỷ lợi . Đồng thời huyện đặc biệt quan tâm thúc đẩy kinh tê trang trại nông lâm nghiêp kết hợp phát triển, mở rộng vùng cây ăn quả đặc sản như bưởi, quýt ( Đại Minh, Hán Đà), cải tạo chè cỗi, thâm canh đạt năng suất trên 8 tấn chè búp/ha/năm.

 Nông nghiệp cuốc xới đã xuất hiện ở Yên Bình từ hàng nghìn năm trước đây cùng với các dấu tích của cư dân Việt cổ. Khi đó dân cư trú ở các rìa đồi ven ngòi suối và sông Chảy, dùng đá cuội ghè đẽo thành các vật giống hình rìu và vật nhọn để chtj cây băm đất, tra lỗ, thịt thú rừng, tạo ra văn hoá hậu kỳ đá cũ – còn lại là văn hoá Sơn Vi. Dần dần các lớp cư dân tiếp theo đã biết chế tác và như Đồng Căng, Mỹ Gia, Thôn Phạ, Ngòi Chân, Cẩm Nhân, Ngòi Dù, Cầu Biệc, Làng Nồi, Phúc Ninh, Vũ Linh, Hồng Bàng, Đại Đồng, Loan Thượng, Gốc Sâm, Trại Phong, Bảo Ái, An Tiến, Ngòi Bang, An lạc, Baic Chuối…Trong các hang động như Nậm Tốc Lù còn gọi là hang Dơi ở Cảm Nhân nằm trên núi đá vôi, theo hướng bắc nam ở độ cao 50m so với thung lũng, các công cụ của người xưa cũng để lại khá nhiều. Đây là thời lỳ mà lịch sử gọi là thời lỳ đá mới.

Cùng với việc chế tác công cụ bằng đá ngày càng đạt đến đỉnh cao, cư dân Yên Bình đã tìm ra kỹ thuật luyện kim để chế tác  công cụ bằng đồng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của nền văn minh sông Hồng - nền văn minh cổ nhất của người Việt, cách ngày nay chừng 3.500-4.000 năm. Tại một quả gò thuộc xã Mông Sơn cũ và tại xã Đại Đồng tìm được khuôn đúc tiền bằng đồng…Lúc này, cư dân dã rời hang động, khai thác đất đai ven sông và các xã ven hồ đầm để canh tác. Biết bao thế hệ đồng bào các dân tộc đã chung lưng đấu cật khai phá núi đồi để lập nên nhưng bản làng, cánh đồng bát ngát, phì nhiêu.

 Hiện nay, Yên Bình vẫn là một huyện có đông các dân tộc cùng chung sống. Người Kinh chiếm khoảng 52% cư dân của huyện, cư trú chủ yếu ở các xã vùng thấp, thị tứ và thị trấn, sống bằng nghề trồng trọt, buôn bán, thợ thủ công, công nhân viên chức trong các cơ quan Nhà nước, các xí nghiệp và lâm trường. Hộ đến địa phương muộn nhất từ thế kỷ XII, mang theo những đặc trưng văn hoá của miên châu thổ đồng bằng và trung du Bắc Bộ; dựng nhiều đình, đền để thờ người có công với xóm làng.

Người Tày chiếm khoảng 15% dân số, chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, khai thác lâm sản. Kho tàng văn hoá dân gian và tập tục có nhiều nét đặc trưng. Với trường ca Vuợt Biển (Khảm hải), ngày hội xuống đồng (lồng tồng), những điệu xoè (nhạc, khăn, thắt lưng, khăn đội đầu nhuộm chám của người phụ nữ…đã chứng tỏ họ là cư dân bản địa từ hàng lâu đời và là một trong những dân tộc có mặt  đầu tiên ở vùng lưu vực sông Chảy.

Người Dao quần trắng chiếm 13% dân số, họ di cư đến địa phương cách đây khoảng 900 năm, sống tập trung ở vùng núi thấp hoặc dọc theo các suối, tổ chức thành các bản riêng ở rải rác các xã, trong đó tập trung đông ở các xã Yên Thành, Phúc An, Tích cốc, Tân hương, Bảo ái, Tân nguyên.... Họ có kho tàng truyện cổ cùng hệ thống lễ hội, các bài hát giao duyên, hát đám cưới hết sức phong phú. Phần lớn sinh sống nhờ làm nương rẫy.

Người Sán chay(Cao lan) chiếm 6% di cư đến địa phương khoảng 400 năm, cư trú ở 8 xã trong huyện, thành thạo trồng lúa nước mặc dù kinh tế nương rẫy vẫn chiếm vị trí quan trọng đối với họ. Cộng đồng dân tộc Cao lan trên địa bàn hầu hết vẫn giữ được các nét sinh hoạt văn hoá truyền thống như hát Sình ca; các lễ hội, trang phục...

            Người Nùng chiếm gần 3% di cư từ vùng Văn nam – Trung Quốc đến địa phương khoảng 200 – 300 năm trước, ngoài lúa nước và nương rẫy họ còn trồng bông, trồng chàm, kéo sợi, dệt vải, rèn đúc, đan lát và làm đồ mộc.

            Ngoài ra, ở Yên bình còn có một số thành phần dân tộc ít người khác cùng sinh sống.

             Về tôn giáo, tín ngưỡng, cư dân trên đất Yên Bình chịu ảnh hưởng của các loại tôn giáo sớm muộn có khác nhau. Đạo phật có ảnh hưởng mạnh tới địa phương sớm nhất vào thời Trần. Đến thế kỷ XVII, khi Vũ Văn Mật mở trường dậy học và lập văn chỉ ở Đại Đồng thì đạo Khổng mới bắt đầu tràn vào Yên Bình. Người Tày thờ Khổng Tử tại bàn thờ tổ tiên cùng phật bà Quan âm trong nhà hoặc xây dựng các điện phật trên đỉnh đèo có bóng cây râm mát, tĩnh mịch. Người Dao rất tôn sùng đạo Lão.

            Đạo thiên chúa đặt chân đến Yên Bình từ năm 1647 khi Linh mục Gabral lập nhà thờ ở Đại Đồng. Trải qua một quá trình khá dài, giáo sứ Yên Bình đã lập nên xứ đạo Vật Lẩm có 22 họ giáo và xứ đạo Đồng Lạng có 6 họ giáo. Hiện tại, đạo Thiên chúa tập trung ở một số xã hạ huyện và dọc quốc lộ 70. Dưới thời Pháp thuộc, nhiều chủ đồn điền từ sỹ quan giải ngũ như Ghihô, Côchê cho đến các giáo sỹ như Ghirốtđơ đã vào Yên Bình cướp đoạt đất đai, lập ra nhiều trang trại lớn rồi chiêu mộ nông dân các tỉnh Nam Định, Hà Nam lên làm tá điền. Chính một học giả người Âu là Pie Guru đã viết:

            “Những nhà truyền đạo thiên chúa đã tiến hành những công trình đã không phải là những thí nghiệm có tính chất cá nhân mà là công việc thực hiện có chuẩn bị và phân công kỹ càng của những người năng động tận tụy, một số đã hy sinh cả tài sản cá nhân cho việc lập ra được ở thung lũng sông chảy, vùng phụ cận Yên Bình một trung tâm khai thác nông nghiệp rất đẹp trải ra trên 1.600 ha, trong đó có 311 ha đã được trồng cấy, nuôi sống 3.000 dân là nông dân và con cháu của họ ”

            Người dân Yên Bình vô cùng tự hào đã từng đứng trong đội quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật giữ trại Thu Vật trước cuộc xâm lăng của giặc Nguyên – Mông. Thời Lê – Mạc, khi cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều diễn ra dữ dội, anh em Vũ Văn Uyên – Vũ vản Mật đã từ Khâu bầu – Đại Đồng đứng dậy giết tên tri phủ gian ác và xưng là Gia Quốc Công, quy phục nhà Lê, chống lại nhà Mạc và được phong làm Yên Tây Vương, trấn giữ biên phủ Yên Bình, dựng nên thành cổ Bắc Pha, thành cổ Cát Tường, để lại bao niềm tự hào trong lòng nhân dân.

                        Việt Bắc, Biều thành thiên cổ tại

                        Đại Đồng Vũ miếu vạn dân chiêm

(Thành Bầu Việt Bắc ngàn năm vững

Miếu Vũ Đại Đồng vạn dân thờ)

            Khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược lên mảnh đất quê hương, nhân dân các dân tộc Yên Bình đã đứng dậy chiến đấu trong đội quân của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp vô cùng dũng cảm, lập nên biét bao chiến công vang dội. Trong cuộc khởi nghĩa Giáp Dần (1914), nhân dân các dân tộc Triệu Tiến Tiên, Triệu Tài Lộc chiến dâud trên một vùng rộng lớn, làm cho kẻ thù vô cùng lúng túng.

            Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thật bại, nhà giáo Vũ Dương vốn là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tùng tham gia cuộc nổi dậy ở Vĩnh Bảo ( Hải Phòng) đã lên yên Bình tiếp tục hoạt động, Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đảng cộng sản Đông Dương đứng ra tổ chức phong trào truyền bá quốc ngữ sâu rộng trong huyện, tuyên truyền được hàng chục nhà giáo và hàng trăm học trò cùng tham gia. Nhiều gia đình đã tự nguyện dành nhà cho lớp học và nuôi thầy. Thông qua việc dạy học, các nhà giáo đã bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc cho mọi người. Nhiều học trò sau này đã trở thành cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sản Đông Dương. Nhà giáo Vũ Dương trở thành người dân đầu tiên gây mầm cách mạng trên đất Yên Bình.

            Vùng đất Yên Bình giầu đẹp. Nhân dân các dân tộc trong huyện cần cù lao động giầu truyền thống yêu nước và cách mạng. Đó là những tiền đề vô cùng quý báu cho những chặng đường đấu tranh cách mạng tiếp theo.

 Nguồn : Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Bình.

 

 

 
 
Cổng giao tiếp điện tử Tỉnh Yên Bái
Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái
- Giấy phép số: 99/GP-TTDT Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử - ngày 03/08/2009
- Người chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Giám đốc sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Yên Bái
- Địa chỉ: Tổ 55, Phường Đồng Tâm, TP Yên Bái, Tỉnh Yên Bái - Điện thoại: 029. 3858.959
- Email: Banbientapcong@yenbai.gov.vn
- Ghi rõ nguồn gốc Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Yên Bái khi khai thác thông tin từ trang này
Công nghệ áp dụng