Cứ độ nửa cuối tháng ba Âm lịch trở đi là chẳng thể cày cấy được gì nữa mà lúc này đứng từ nhà trưởng thôn Lý Văn Vanh nhìn ra hồ Thác, vẫn mênh mông mặt nước. Trưởng thôn Vanh thở dài: “Người dân ven hồ như chúng tôi chẳng còn cách nào khác là thấp thỏm đợi từng ngày mong nước rút”. Lẽ thường, tháng Giêng là nước hồ bắt đầu rút, có năm sớm thì từ tháng Chạp. Nước rút đến đâu, dân gieo mạ cấy lúa đến đó. Có năm rút nhanh, đến tháng Giêng là dân trong và ngoài thôn đã đổ ra cấy lúa trên diện tích bãi bồi rộng lớn. Nhưng năm nay, thêm một năm nước rút chậm, thậm chí là rất chậm.
Thời điểm này, lẽ ra nước đã phải rút nhiều, đã có thể để lại những khoảng bãi bồi rộng rãi cho người dân gieo cấy. Song, mép nước, chân nhà chẳng cách nhau là mấy. Ở đồng đất khác, lúa đã xanh mướt mát trải dài những cánh đồng thì ở thôn này, từng đụn ruộng ton hỏn trong tầm mắt. Khoảng ruộng ngay dưới chân nhà trưởng thôn ước chừng chỉ độ 1,2 mẫu, thế mà là của những 9 hộ. Chỉ miếng ruộng nhỏ, ông Vanh cho biết: “Đấy là tất cả phần ruộng của gia đình tôi cấy được cho đến lúc này. Còn cả thôn cũng chỉ độ 2,5 mẫu thôi”. Từ “thôi” mà người trưởng thôn buồn bã buông xuống kéo theo cả ngàn sự “sốt ruột” của mấy chục hộ dân nơi này. Không sốt ruột sao được, khi những năm nước rút nhanh, tính trung bình mỗi hộ trong thôn cấy được 2-3ha lúa nước mà có lúc nhiều gia đình vẫn còn khốn khó, bởi chỉ làm được một vụ lúa. Đất phù sa nhưng nhiều cát bồi, năng suất không cao. Diện tích lúa đến lúc này chẳng đáng là bao, cái đói dường như đã là điều trông thấy. Ấy vậy mà có lẽ ông Vanh và những hộ gia đình khác có tí ruộng vẫn còn hạnh phúc hơn nhiều nhà khác khi họ chưa cắm được cây lúa nào xuống đất. Ở nhóm 3 trong thôn, diện tích cấy lúa của cả 10 hộ hiện vẫn còn đang chìm trong nước.
Theo kinh nghiệm của người dân khu vực này thì nước sẽ chẳng rút kịp để có thể cấy lúa được nữa. “Còn nước còn tát”, cho dù, ông Vanh đã phải vứt đi một lượt mạ 10kg thóc giống; bà Ném cũng đã xót xa phải bỏ đi lượt mạ quá lứa 30kg thóc giống... song, nhiều gia đình ở Vĩnh An vẫn cứ gieo mạ và thấp thỏm chầu chực chờ nước rút để có thể cấy những cây lúa cuối cùng của mùa vụ năm nay dù biết rằng, đó thực sự là những “canh bạc” với hồ. Sự nghèo khó của Vĩnh An cũng một phần từ những “canh bạc” ấy mà ra.
Mùa vụ được mất thất thường, rừng lại ít. Trưởng thôn Vanh ước tính: “30 hộ trong thôn có rừng nhưng tất cả chỉ độ khoảng 30 ha và 11 hộ không có rừng. Có những hộ không rừng, không ruộng, cuộc sống phụ thuộc vào lòng hồ và ngày công lao động làm thuê”. Nhưng phương tiện mưu sinh trên hồ lại chủ yếu là những những chiếc thuyền nhỏ bé và mùa nước lên mới là mùa làm ăn chính. Vì thế, khoảng một nửa trong tổng số 43 hộ toàn thôn là hộ nghèo cũng là điều dễ hiểu.
Nhà ông Vanh không xếp vào diện nghèo của thôn, song tôi cứ thắc mắc mãi về căn nhà lộng gió tứ bề, thông thống không một thanh gỗ chắn ngang. Những căn nhà trống tuềnh, trống toàng dọc con đường vào thôn không ít, song có lẽ miếng cơm, hạt gạo mới là mối lo chính của nhiều người dân Vĩnh An lúc này. Ngay tại thời điểm đợi chờ một vụ lúa mới năm nay, rất nhiều hộ ở đây đang phải ăn đong và chuyện ăn sắn trừ cơm chẳng hiếm ở nhiều gia đình...
Con đường từ thôn ra quốc lộ 70 chỉ chừng gần chục cây số mà trưởng thôn Vanh đi họp ở xã gặp lúc trời mưa phải vật lộn cả tiếng đồng hồ với chiếc xe đạp cũ kĩ. Có lần phải bỏ lại cả xe vì té trượt, cuốc bộ lên xã mang theo cả những khó khăn của người dân Vĩnh An. Chính quyền xã biết vậy nên cũng đã dành nhiều sự quan tâm cho Vĩnh An, song có lẽ vẫn chẳng thấm tháp gì khi cuộc sống của cái làng ven ấy vẫn cứ phải phụ thuộc quá nhiều vào lòng hồ, mặt nước.