Báo cáo kết quả hoạt động

 Tệp đính kèm

Báo cáo Tổng kết công tác Tư pháp năm 2011 phương hướng, nhiệm vụ công tác Tư pháp năm 2012

BÁO CÁO

Tổng kết công tác Tư pháp năm 2011,

Phương hướng, nhiệm vụ công tác Tư pháp năm 2012

 


Quán triệt sự lãnh đạo của Bộ Tư pháp, của Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp Yên Bái đã xây dựng và triển khai Chương trình công tác Tư pháp năm 2011 gồm 05 nội dung lớn. Thực hiện Công văn số 5546/BTP-VP ngày 19 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tư pháp; công văn số 2115/UBND-NC ngày 04/10/2011 của UBND tỉnh Yên Bái về việc báo cáo công tác tư pháp năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2012, Sở Tư pháp Yên Bái xây dựng báo cáo với những nội dung cụ thể như sau:

I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2011

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

Trong năm 2011 hoạt động chỉ đạo, điều hành công tác Tư pháp của lãnh đạo Sở tiếp tục bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương và Chương trình công tác trọng tâm năm 2011 của Bộ Tư pháp. Quán triệt Quyết định số 90/QĐ-BTP ngày 25/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Chương trình công tác của ngành Tư pháp năm 2011 và Chương trình công tác của UBND tỉnh, lãnh đạo Sở đã tập chung chỉ đạo việc xây dựng Chương trình công tác Tư pháp năm 2011 nhằm triển khai, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác Tư pháp tại địa phương. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc căn cứ vào Chương trình chung của Ngành, xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết theo từng tháng, từng quý sát với thực tiễn và phân công nhiệm vụ cụ thể, nâng cao trách nhiệm cá nhân của từng cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Ngành, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác Tư pháp năm 2011.  

Lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, tập trung giải quyết các nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch đã đề ra. Hoạt động chỉ đạo, điều hành sát với thực tiễn, bám sát yêu cầu nhiệm vụ và chú trọng hướng về cơ sở, duy trì và tổ chức tốt các cuộc họp giao ban. Thông qua đó đã kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị.

Để đảm bảo hoạt động của toàn Ngành được thông suốt và đạt hiệu quả cao Lãnh đạo Sở chỉ đạo tiếp tục thực hiện tốt Quy chế làm việc của cơ quan đồng thời thực hiện tốt sự chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp, Thường trực UBND tỉnh. Duy trì thực hiện cơ chế phối hợp trong công tác Tư pháp tại địa phương. Thường xuyên chỉ đạo các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc đẩy mạnh công tác Cải cách hành chính gắn với Cải cách Tư pháp, từng bước cải tiến lề lối làm việc, thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các cuộc họp, hội nghị triển khai công tác Tư pháp được đổi mới về cách thức tổ chức, thành phần tham dự và rút ngắn về thời gian nhưng vẫn đảm bảo triển khai kịp thời và đạt chất lượng do đã được chuẩn bị tốt về nội dung chương trình.

            Thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo với Bộ Tư pháp, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh, duy trì và tiếp tục đề cao kỷ luật trong việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo của cơ sở. Thực hiện tốt việc xử lý văn bản theo đúng quy định, kịp thời giao nhiệm vụ cho các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc tham mưu, đề xuất biện pháp triển khai, tổ chức thực hiện bảo đảm yêu cầu và tiến độ đề ra.

            Ngoài ra, các đồng chí trong lãnh đạo Sở là thành viên các Ban chỉ đạo của tỉnh như: Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp; Ban chỉ đạo 138; Ban chỉ đạo an toàn giao thông... đã thực hiện tốt kế hoạch công tác của các Ban chỉ đạo. Tích cực tham gia các đoàn kiểm tra, lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương, các cấp, các ngành trong tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực được giao.

            Với phương thức chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Sở cùng với sự nỗ lực cố gắng của tập thể cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị đã góp phần đảm bảo cho hoạt động của toàn Ngành được thông suốt và đạt hiệu quả, thể hiện rõ được vai trò tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền cùng cấp trong công tác quản lý Nhà nước tại địa phương.

2. Công tác xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

2.1. Công tác xây dựng, thẩm định, tham gia ý kiến dự thảo văn bản quy phạm pháp luật:

- Xây dựng trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Quyết định ban hành “Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Hội đồng nhân dân tỉnh và văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái năm 2011”, văn bản điều chỉnh, bổ sung “Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Hội đồng nhân dân tỉnh và văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái năm 2011”, đồng thời có văn bản đôn đốc các ngành thực hiện việc xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đúng tiến độ về thời gian theo Chương trình.

- Xây dựng văn bản tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về phân cấp quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp.

+ Căn cứ Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong năm đã xây dựng dự thảo 02 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trình UBND tỉnh: Quyết định ban hành quy định về bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Quyết định ban hành quy định về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

            - Tập trung nghiên cứu, thảo luận, tham gia ý kiến 49 dự thảo văn bản, trong đó có 10 dự thảo, dự án luật, 02 dự thảo nghị định, 04 dự thảo thông tư và 33 dự thảo văn bản khác.

- Thẩm định 71 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, trong đó cấp tỉnh thẩm định 66 dự thảo (28 Nghị quyết, 36 quyết định, 02 chỉ thị); cấp huyện thẩm định 05 dự thảo (04 quyết định, 01 chỉ thị) thuộc các lĩnh vực: đất đai, địa chính, đào tạo, công nghệ thông tin, chính sách bồi thường, hỗ trợ, đầu tư, xây dựng, phí, lệ phí v.v..

Qua công tác xây dựng, thẩm định dự thảo VBQPPL năm 2011 cho thấy: hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã được thực hiện theo Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND, đảm bảo về quy trình, thời gian và chất lượng. Các văn bản quy phạm pháp luật dự kiến ban hành trong năm được các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh lập danh mục đưa vào “Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh và Danh mục văn bản quy phạm pháp luật trình Hội đồng nhân dân tỉnh” năm 2011. Việc thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu đối chiếu các quy định pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn thi hành pháp luật ở địa phương, để đưa ra ý kiến thẩm định mang tính thuyết phục đối với cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm quyền ban hành văn bản. Thời gian, trình tự, thủ tục thẩm định được đảm bảo theo quy định. Hồ sơ thẩm định được lưu giữ, bảo quản chặt chẽ và khoa học. Các dự thảo văn bản sau khi thẩm định đều được cơ quan xây dựng dự thảo tiếp thu (khoảng 90%), chỉnh sửa và trình ký ban hành theo đúng trình tự pháp luật quy định. Hiệu quả của công tác này đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Quá trình tiếp nhận hồ sơ và thẩm định Sở đã từ chối thẩm định đối với 11 văn bản với các lý do: chưa tổ chức lấy ý kiến tham gia; không đảm bảo các yêu cầu để ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chưa đúng thẩm quyền ban hành văn bản; đã đề nghị đưa ra khỏi Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; chưa có trong Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2011, đồng thời yêu cầu cơ quan soạn thảo lấy ý kiến tham gia đối với những văn bản chưa tổ chức lấy ý kiến tham gia; đề nghị đăng ký vào Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đối với những văn bản chưa có trong chương trình; yêu cầu ban hành văn bản theo đúng thẩm quyền pháp luật quy định đối với những văn bản chưa đảm bảo thẩm quyền ban hành.

2.2. Kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; quản lý Nhà nước về bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; theo dõi thi hành pháp luật

          Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đồng thời để triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; quản lý Nhà nước về bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; theo dõi thi hành pháp luật, trong năm 2011, Sở đã tham mưu trình UBND: Quyết định ban hành quy định về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Quyết định phân công trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về công tác bồi thường; cơ quan có trách nhiệm bồi thường và bảo đảm kinh phí cho công tác quản lý Nhà nước về bồi thường và công tác giải quyết trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 26/10/2010 về rà soát văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành từ 01/01/2007 đến 31/12/2010 và những văn bản quy phạm pháp luật đã được UBND tỉnh công bố tại Quyết định số 183/QĐ-UBND ngày 29/01/2008; Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 13/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái thực hiện công tác trọng tâm theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2011; xây dựng Kế hoạch số 06/KH-STP ngày 04/3/2011 để triển khai thực hiện Kế hoạch số 97/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái. Đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ: Công văn số 39/STP-KTrVBQPPL ngày 07/3/2011 hướng dẫn các phòng Tư pháp về thực hiện công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; Công văn số 330/STP-KTrVBQPPL ngày 16/9/2011 hướng dẫn phòng Tư pháp về việc xây dựng kế hoạch và dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản năm 2012; Công văn số 199/STP-KTrVBQPPL ngày 04/7/2011 gửi các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố hướng dẫn về thực hiện công tác quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.

- Công tác tự kiểm tra: Trong năm đã tiến hành tự kiểm tra 83 văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành bao gồm: 27 nghị quyết; 54 quyết định; 02 chỉ thị. Sau kiểm tra đã đề nghị:

+ Hủy bỏ 01 văn bản: Quyết định số 502/QĐ-UBND ngày 15/4/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái ban hành Quy định về quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

+ Đính chính 03 văn bản: Quyết định số 01/2011/QĐ-UBND ngày 10/01/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc ban hành Quy chế quản lý khai thác, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Nghị Quyết số 18/2010/NQ-HĐND ngày 16/12/2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về dự toán ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm 2011; Quyết định số 31/2010/QĐ-UBND ngày 22/11/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái ban hành đơn giá đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

- Kiểm tra theo thẩm quyền: Tổng số văn bản kiểm tra (bao gồm kiểm tra trực tiếp và văn bản gửi kiểm tra) là 48.279 văn bản, trong đó có 108 văn bản quy phạm pháp luật (62 nghị quyết, 23 quyết định, 23 chỉ thị). Thông qua công tác kiểm tra đã thông báo và đề nghị Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tự kiểm tra, xử lý 06 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã đã tự kiểm tra, xử lý 05/06 văn bản:  

+ Ủy ban nhân dân huyện Trạm Tấu đã ban hành Quyết định số 574a/QĐ-UBND ngày 01/6/2011 về việc đình chỉ thi hành và hủy bỏ Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 08/9/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Trạm Tấu ban hành Quy định về tổ chức các khối giao ước thi đua và Bảng tiêu chuẩn chung hướng dẫn chấm điểm thi đua trên địa bàn huyện Trạm Tấu.

+ Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải ban hành Quyết định số 999/QĐ-UBND ngày 25/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải về việc hủy bỏ Quyết định số 1344/QĐ-UBND ngày 10/8/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải Quy định mức hỗ trợ trong chữa cháy rừng; Công văn số 502/UBND-VP ngày 31/8/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải về việc đính chính Quyết định số 04/2011/QĐ-UBND ngày 13/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân huyện Mù Cang Chải khóa XIX, nhiệm kỳ 2011 – 2016.

+ Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn ban hành Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 05/9/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn về việc hủy bỏ Quyết định số 138/2011/QĐ-UBND ngày 01/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn ban hành Quy định mức chi hỗ trợ công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn huyện Văn Chấn; Quyết định số 184/QĐ-UBND ngày 19/8/2011 của Ủy ban nhân dân huyện văn Chấn đính chính Quyết định số 151/2011/QĐ-UBND ngày 25 tháng 7 năm 2011 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn Ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân huyện Văn Chấn nhiệm kỳ 2011 – 2016.

+ Riêng Quyết định số 271/QĐ-UBND ngày 14/3/2011 của Ủy ban nhân dân thị xã Nghĩa Lộ về việc quy định chế độ trợ giúp đối với các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ do mới gửi thông báo nên chưa có kết quả giải quyết cụ thể.

 - Rà soát văn bản:

+ Rà soát thường xuyên: Tiến hành rà soát 84 văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành. Qua rà soát xác định 07 văn bản hết hiệu lực thi hành, 80 văn bản còn hiệu lực thi hành. Tổng văn bản kiến nghị sau rà soát: 01 văn bản, trong đó đã đề nghị bãi bỏ 01 văn bản.

+ Rà soát văn bản định kỳ: Căn cứ Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 20/10/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sở đã tham mưu triển khai các hoạt động: tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch số 97/KH-UBND; thành lập tổ rà soát văn bản; lập mẫu danh mục văn bản; lên danh mục văn bản; phân công trách nhiệm rà soát văn bản cho các sở, ngành; tiếp nhận kết quả rà soát và kiểm tra, thẩm định kết quả rà soát. Hiện nay đang tiến hành thẩm định kết quả rà soát các các sở, ngành và vào các danh mục văn bản để trình Ủy ban nhân dân tỉnh Công bố các danh mục văn bản của Hội dồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh theo đúng thời gian của Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 26/10/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

            + Rà soát văn bản theo chuyên đề: Tổ chức phối hợp công tác rà soát, xây dựng ,đề nghị Sở Tư pháp  trình Ủy ban nhân dân tỉnh dự thảo Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực thi các cam kết của Việt Nam với tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2010; Báo cáo kết quả rà soát văn bản quy phạm pháp luật do tỉnh Yên Bái ban hành với cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2011.

- Bồi thường Nhà nước: Tham mưu triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh dự thảo báo cáo về tình hình triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 6  tháng đầu  năm 2011 trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Trong đó số vụ việc có yêu cầu bồi thường 01 vụ (cũ năm 2010 chuyển sang). Đối tượng yêu cầu bồi thường là cá nhân. Vụ việc đang được Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.

- Theo dõi thi hành pháp luật: Căn cứ Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 13/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh, đã tham mưu phối hợp với một số cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố triển khai các hoạt động cụ thể kiểm tra, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về bán đấu giá tài sản. Cho đến nay, các công việc tiếp tục được triển khai và bảo đảm tiến độ kết thúc thực hiện Kế hoạch vào ngày 20/11/2011.

Nhìn chung, trong năm 2011 công tác kiểm tra rà soát văn bản quy phạm pháp luật; quản lý Nhà nước về bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; theo dõi thi hành pháp luật đã đạt được những kết quả tốt. Trước yêu cầu nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản QPPL và yêu cầu đặt ra của công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Dưới sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ Tư pháp công tác kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản QPPL tiếp tục được tổ chức triển khai thực hiện đi vào chiều sâu có chất lượng hơn. Quy trình kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản QPPL được chuẩn hóa; sổ sách, biểu mẫu nghiệp vụ được tạo lập bảo đảm kiểm soát, phản ánh đầy đủ quá trình quản lý, thao tác nghiệp vụ theo quy định. Thông qua công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền đã phát hiện, kiến nghị xử lý, rút kinh nghiệm kịp thời những văn bản (văn bản QPPL, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản khác) do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ban hành có dấu hiệu trái pháp luật. Công tác rà soát văn bản được thực hiện đúng quy định. Cùng với công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, công tác rà soát văn bản đã góp phần nâng cao chất lượng soạn thảo, ban hành văn bản, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước bằng pháp luật trên địa bàn địa phương. Công tác quản lý nhà nước về bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật là lĩnh vực công tác mới, bước đầu triển khai thực hiện đạt được một số kết quả nhất định tạo tiền đề để triển khai thực hiện toàn diện, hiệu quả hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo.

3. Công tác hành chính tư pháp

            3.1. Công tác chứng thực

- Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Trong năm 2011 công tác chứng thực của UBND cấp xã, phường, thị trấn thực hiện đúng quy định của pháp luật, thuận lợi, nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu của công dân và tổ chức.

   3.2. Công tác hộ tịch

a. Hộ tịch cấp cơ sở

Hướng dẫn, đôn đốc cấp huyện và cơ sở tiếp tục thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Đề nghị Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố rà soát, giải quyết đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi; hướng dẫn triển khai Thông tư số 16/2010/TT-BTP về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn cho công dân Việt Nam đã tiến hành ở nước ngoài; hướng dẫn thống kê việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nhằm mục đích kết hôn với người nước ngoài.

b. Hộ tịch cấp tỉnh

- Xây dựng trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 96/KH-UBND về tổ chức hội thi cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã giỏi. Triển khai thực hiện Kế hoạch, Sở đã chỉ đạo 9/9 huyện, thị xã, thành phố tổ chức thành công hội thi cấp cơ sở; tham mưu UBND tỉnh thành lập Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, tổ thư ký Hội thi cấp tỉnh, xây dựng Quy chế hội thi, bộ câu hỏi, đáp án và tổ chức thành công Hội thi “Cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã giỏi” tỉnh Yên Bái vào ngày 13/10/2011.

- Xây dựng trình UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 99/KH-UBND về tập huấn Luật Nuôi con nuôi; tổ chức 02 Hội nghị tập huấn Luật Nuôi con nuôi tại khu vực thành phố và khu vực phía Tây của tỉnh cho 563 đối tượng tham dự.

- Làm việc với Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh nắm bắt tình hình hoạt động hỗ trợ nhân đạo của tổ chức thầy thuốc thế giới MDM - Cộng hòa Pháp đang hoạt động tại tỉnh Yên Bái. Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Tiếp nhận, thụ lý và giải quyết kịp thời, đầy đủ, chính xác các việc về khai sinh, kết hôn, cấp phiếu lý lịch tư pháp khi có yêu cầu của công dân. Tổ chức thu lệ phí theo đúng quy định pháp luật. (Có thống kê số liệu kèm theo).

3.3. Công tác quốc tịch

Tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 13/KH-UBND triển khai thực hiện điều 22 Luật Quốc tịch trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Đề nghị UBND cấp huyện rà soát, thống kê lập danh sách các trường hợp người không quốc tịch cư trú trên địa bàn tỉnh Yên Bái theo điều 22 Luật Quốc tịch, tổng hợp xây dựng báo cáo Bộ Tư pháp và UBND tỉnh.

 3.4. Lý lịch tư pháp

Triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật lý lịch tư pháp, chủ động in ấn các loại biểu mẫu, sổ sách để ghi chép và tiếp nhận, cập nhật các thông tin về lý lịch tư pháp do các ngành Toà án, Thi hành án, Viện kiểm sát..v.v..và các địa phương khác cung cấp, phục vụ cho việc tra cứu, cung cấp thông tin cho đương sự khi có yêu cầu.

- Phối hợp với Công an tỉnh giải quyết các yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của công dân đảm bảo chính xác, kịp thời, đúng quy định của pháp luật. (Có thống kê số liệu kèm theo).

Nhìn chung, trong năm 2011 công tác quản lý, đăng ký hộ tịch trong toàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, công tác kiểm tra hướng dẫn nghiệp vụ đã được phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố đẩy mạnh. Đối với công tác hộ tịch cấp tỉnh, hồ sơ thụ lý đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đồng thời trong quá trình thụ lý và giải quyết, sự phối hợp với các cơ quan có liên quan cũng chặt chẽ hơn, đã cải cách được một phần thủ tục hành chính, bỏ bớt các thủ tục rườm rà, không cần thiết, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của công dân.

 Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định như: Hiện nay mạng lưới cộng tác viên dịch thuật tiếng nước ngoài từ cấp tỉnh đến cấp huyện còn rất hạn chế, đối với những huyện vùng cao hầu như không có cộng tác viên, những huyện vùng thấp có nhưng chủ yếu dịch thuật 02 thứ tiếng đó là tiếng Trung Quốc và tiếng Anh. Ở cấp tỉnh số cộng tác viên tham gia dịch thuật rất hạn chế, nhiều trường hợp dịch thuật phải mời công tác viên ở các tỉnh khác, do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giải quyết. Bên cạnh đó việc triển khai thực hiện Luật lý lịch tư pháp còn chưa đồng bộ, việc phối hợp của các ngành với cơ quan tư pháp còn chậm. Cơ sở vật chất để triển khai thực hiện Luật còn thiếu, đặc biệt là biên chế con người, phần mềm quản lý và khai thác dữ liệu chưa có.

4. Công tác bổ trợ tư pháp

 4.1. Giám định:

Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức giám định Tư pháp tại địa phương, thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của các tổ chức Giám định. Phối hợp với các cơ quan liên quan kiện toàn các tổ chức giám định để phục vụ kịp thời cho công tác điều tra, xét xử và các yêu cầu khác tại địa phương. Tham mưu cho UBND tỉnh bổ nhiệm 02 giám định viên tư pháp về văn hoá, 01 giám định viên tư pháp về kỹ thuật hành sự; miễn nhiệm 03 giám định viên tư pháp về văn hoá, 01 giám định viên tư pháp về pháp y. Đồng thời làm thủ tục đề nghị Bộ Tư pháp cấp thẻ giám định viên 03 trường hợp, thu hồi thẻ và xoá tên 04 trường hợp nêu trên. Đến nay tổng số giám định viên tư pháp trong toàn tỉnh có 46 đồng chí (có biểu chi tiết kèm theo). Trong năm 2011 các tổ chức giám định đã thực hiện giám định 571 vụ việc (có biểu chi tiết kèm theo). Qua theo dõi công tác giám định tư pháp trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tốt, các kết luận giám định đều đảm bảo tính chính xác, hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công cuộc đấu tranh phòng chống, tội phạm ở địa phương.

4.2. Luật sư

Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động của Đoàn Luật sư, Chi nhánh Văn phòng Luật sư, trong thời gian qua Sở tiếp tục tăng cường công tác quản lý và củng cố tổ chức hoạt động của Đoàn Luật sư tỉnh theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện việc cấp mới 01 giấy đăng ký hoạt động, đổi 01 giấy đăng ký hoạt động văn phòng luật sư do thay đổi người đại diện theo quy định của pháp luật; tổ chức kiểm tra các văn phòng luật sư trên địa bàn. Hiện nay Đoàn luật sư tỉnh Yên Bái có 04 văn phòng luật sư, 01 chi nhánh với tổng số 07 luật sư (01 luật sư tập sự).

Trong năm Đoàn Luật sư tỉnh thực hiện 192 vụ việc, cụ thể: hình sự 44 vụ; dân sự 21 vụ; hành chính 01 vụ; tư vấn pháp luật 106 việc, trợ giúp pháp lý miễn phí 20 việc. Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được thì trong lĩnh vực này còn một số hạn chế bất cập như: Chất lượng hoạt động luật sư còn hạn chế so với yêu cầu xã hội; công tác tổ chức quản lý của Đoàn luật sư còn yếu, điều kiện làm việc cũng như thu nhập của luật sư tại địa bàn tỉnh còn thấp do vậy không thu hút tạo được nguồn phát triển đội ngũ luật sư tại địa phương.

   4.3. Tư vấn pháp luật:

Hiện tại tỉnh Yên Bái có 02 Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh với 05 tư vấn viên. Trong năm 2011, các Trung tâm tư vấn thực hiện 25 vụ việc trong đó hình sự 03 vụ; dân sự 02 vụ; các lĩnh vực khác 20 vụ việc.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, hoạt động của các trung tâm tư vấn pháp luật còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc. Đội ngũ tư vấn viên còn mỏng, số lượng việc tư vấn chưa nhiều do vậy khó đảm bảo việc tự trang trải kinh phí hoạt động.

4.4. Công chứng:

Xây dựng Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010-2020 trình Uỷ ban nhân dân tỉnh và đề nghị Bộ Tư pháp phê duyệt.

Trong năm 2011 đã thực hiện 7210 hợp đồng, giao dịch, thu lệ phí 1.825.766.000 đồng, trong đó Phòng Công chứng số 1 thực hiện 6108 việc, thu lệ phí 1.546.680.000 đồng, Phòng Công chứng số 2 thực hiện 1102 việc, thu lệ phí 279.086.000 đồng.

4.5. Đấu giá tài sản:

Thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh. Xây dựng văn bản quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh trình UBND tỉnh ban hành. Tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản. Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hoạt động bán đấu giá tài sản, niêm yết trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản, biểu mức thu phí đấu giá công khai tại trụ sở; chủ động tìm và ký hợp đồng bán đấu giá các loại tài sản như: tài sản thi hành án, tài sản thu sung công quỹ Nhà nước, tài sản thanh lý của Nhà nước, tài sản khác của các doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn toàn tỉnh.

Trong năm Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản đã ký 51 hợp đồng và quyết định chuyển giao bán đấu giá tài sản với trị giá tài sản đã ký tính theo giá khởi điểm là 47.169.527.050 đồng. Tổ chức 30 phiên đấu giá thành, giá khởi điểm 19.330.120.950 đồng, tổng giá trị giá tài sản bán được 20.343.526.900 đồng, tăng so với giá khởi điểm là: 1.013.405.950 đồng.

Ký 09 hợp đồng cử đấu giá viên điều hành 09 cuộc bán đấu giá tài sản của Hội đồng bán đấu giá cấp huyện với tổng giá trị tài sản tính theo giá khởi điểm là 973.035.400 đồng, tổng giá trị bán được 1.016.357.000 đồng, tăng so với giá khởi điểm 43.321.600 đồng.

Bên cạnh những thuận lợi thì Trung tâm còn gặp một số khó khăn, vướng mắc: Thứ nhất là trong công tác chỉ đạo, điều hành, do các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương quy định còn chồng chéo dẫn đến việc ban hành các văn bản của địa phương cũng có những bất cập, không thống nhất được về chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị chức năng trong tỉnh. Thứ hai là về tài chính, trụ sở: trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu được ngân sách cấp một phần kinh phí, chi thường xuyên chủ yếu dựa vào nguồn thu phí đấu giá tuy nhiên nguồn thu này còn ít và không ổn định; trung tâm không có kho tàng bến bãi do vậy gặp khó khăn trong công tác bảo quản cũng như bàn giao tài sản cho khách hàng trúng giá.

4.6. Công tác giao dịch bảo đảm

Phối hợp với các cơ quan hữu quan triển khai Kế hoạch số 104/KH-UBND ngày 29/11/2010 của UBND tỉnh Yên Bái triển khai Nghị định số 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

5. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

5.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật

- Thực hiện nhiệm vụ của Thường trực Hội đồng phối hợp, tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1300/QĐ-UBND về việc kiện toàn Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh; Quyết định số 1298/QĐ-UBND về kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Xây dựng văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cấp huyện kiện toàn Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL cùng cấp và đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp huyện. Xây dựng kế hoạch của Hội đồng phối hợp về công tác kiểm tra và tự kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Hội đồng phối hợp đối với các sở, ban, ngành, đoàn thể và Hội đồng phối hợp các huyện, thị xã, thành phố. Xây dựng Báo cáo kết quả kiểm tra của Hội đồng.

- Tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tuyên truyền, PBGDPL năm 2010 và sơ kết 01 năm triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền PBGDPL trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010-2015; tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 14/KH-UBND ngày 23 tháng 2 năm 2011 về công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật năm 2011; Kế hoạch số 71/KH-UBND ngày 26/9/2011 về thực hiện ngày pháp luật trên địa bàn toàn tỉnh; Kế hoạch số 57/KH-UBND về tổ chức cuộc thi viết tìm hiểu Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Kế hoạch số 81/KH-UBND tổ chức các hoạt động tháng cao điểm tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng văn bản của UBND tỉnh đôn đốc các sở, ban, ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang và UBND các huyện, thị xã, thành phố triển khai “Tháng cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp luật” (tháng 9).

Xây dựng dự thảo Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011 – 2015”; xây dựng kế hoạch và hợp đồng ký kết giữa Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên tại địa phương. Ban hành Kế hoạch số 29/KH-STP-SGDĐT về phối hợp tuyên truyền, PBGDPL trong nhà trường theo Thông tư số 30/2010TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16/11/2010 của liên Bộ Giáo dục đào tạo – Bộ Tư pháp hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Xây dựng kế hoạch thực hiện phóng sự về phòng, chống ma tuý, phát hành tờ rời cấp phát cho cơ sở để triển khai Quyết định số 490/QĐ-UBND ngày 09/4/2011 của UBND tỉnh Yên Bái về chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý năm 2011.

- Thực hiện có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trên Báo Yên Bái: thực hiện 24 chuyên mục “Đời sống và pháp luậtvới 50 tin, bài. Nội dung tuyên truyền pháp luật về cải cách hành chính, nuôi con nuôi, phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, an toàn giao thông, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, phòng chống tham nhũng và một số hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh. Trên sóng truyền hình: thực hiện 12 chuyên mục, bao gồm các phóng sự về Hội thi “Hòa giải viên giỏi tỉnh Yên Bái năm 2010”, phóng sự về công tác văn thư lưu trữ theo Chỉ thị số 16 của Ủy ban nhân dân tỉnh, phóng sự về tổng kết công tác tư pháp năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, phỏng vấn về cuộc thi viết Luật Phòng, chống bạo lực gia đình,  tuyên truyền Nghị định số 103/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa công cộng, Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật Nuôi con nuôi… Trên sóng phát thanh: thực hiện 48 chuyên mục Pháp luật với cuộc sống” tập trung giới thiệu các văn bản pháp luật mới ban hành, các câu chuyện pháp luật, giải đáp các nội dung pháp luật có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của cán bộ và nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Phát hành 04 số Bản tin số lượng 4000 cuốn; sách hỏi - đáp pháp luật về phòng chống ma túy 1.800 cuốn; tờ rơi về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em 2.700 cuốn. Biên soạn và phát hành 06 loại tờ rời pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình; hôn nhân gia đình; trách nhiệm bồi thường của nhà nước, phòng chống ma túy, phòng cháy chữa cháy rừng với số lượng mỗi loại là 1.500 tờ. Biên soạn 01 bộ sách hỏi đáp pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với số lượng 1.000 cuốn.

- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phối hợp với các cơ quan, ban, ngành và các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật: Ký kết Kế hoạch phối hợp với Báo Yên Bái, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên Báo Yên Bái, Đài Phát thanh – Truyền hình năm 2011; kế hoạch phối hợp hoạt động giữa Sở Tư pháp - Hội Luật gia tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2015. Phối hợp với Hội luật gia tỉnh tổ chức hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho 100 hội viên Hội luật gia; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức tập huấn cho các Trưởng ban mặt trận thôn tại xã Tân Hương huyện Yên Bình; phối hợp với Ban dân tộc tổ chức Hội nghị tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân tộc thiểu số tại huyện Văn Chấn. Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức tuyên truyền điểm tại Trường phổ thông dân tộc nội trú và Trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật tỉnh. Phối hợp với UBND huyện Trạm Tấu tổ chức tuyên truyền điểm tại thị trấn Trạm Tấu với số lượng trên 800 học sinh, sinh viên và nhân dân tham dự.

- Xây dựng báo cáo hoạt động của Câu lạc bộ pháp luật theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp; báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật.

5.2. Công tác hoà giải ở cơ sở:

- Tổ chức tổng kết 5 năm Chương trình phối hợp giữa Sở Tư pháp và Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh về nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và hòa giải ở cơ sở. Phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên tổ chức 02 lớp tập huấn nghiệp vụ cho 312 Tổ trưởng Tổ hòa giải. Phối hợp với UBND huyện Yên Bình và thành phố Yên Bái tổ chức 04 hội nghị tập huấn cho 676 hòa giải viên cơ sở.

- Xây dựng báo cáo; làm việc với Đoàn khảo sát Bộ Tư pháp khảo sát công tác hòa giải cơ sở tại thành phố Yên Bái và huyện Trấn Yên.

Tóm lại, công tác PBGDPL những tháng đầu năm 2011 được tổ chức triển khai có hiệu quả từ tỉnh đến cơ sở. Cơ quan Tư pháp các cấp đã thực hiện tốt vai trò là cơ quan Thường trực Hội đồng phối hợp; chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền tăng cường các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác này, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia công tác tuyên truyền pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trên địa bàn.

6. Công tác Trợ giúp pháp lý

- Tham mưu xây dựng trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND ngày 15/3/2011 về việc thành lập các chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Yên Bái. Triển khai Quyết định số 330/QĐ-UBND, đã thành lập 02 Chi nhánh trợ giúp pháp lý tại thị xã Nghĩa Lộ và huyện Lục Yên,  02 chi nhánh này đã chính thức đi vào hoạt động. Thành lập Phòng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và Phòng Tổng hợp hành chính của Trung tâm theo Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 15/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh. Hiện nay Trung tâm có 15 biên chế, trong đó có 05 trợ giúp viên pháp lý; lãnh đạo Trung tâm gồm: Giám đốc, 01 Phó giám đốc, 02 Phó trưởng phòng, 02 Trưởng Chi nhánh.

- Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ; kế hoạch thực hiện một số hoạt động trợ giúp pháp lý trên cơ sở nguồn kinh phí do Quỹ trợ giúp pháp lý Việt Nam hỗ trợ. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Yên Bái. Phối hợp với Hội phụ nữ thành phố Yên Bái tổ chức tập huấn nghiệp vụ và pháp luật trợ giúp pháp lý cho cán bộ Hội phụ nữ chủ chốt các xã, phường của thành phố và cấp phát miễn phí văn bản, tài liệu. Biên soạn, in ấn 03 loại tờ gấp với số lượng 9000 tờ gửi Phòng Tư pháp cấp huyện cấp phát miễn phí cho nhân dân. Phục vụ nhiệm vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, Trung tâm đã phối hợp với Phòng Tư pháp cấp huyện tuyên truyền Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cho nhân dân các xã Mông Sơn, Vĩnh Kiên, Thác Bà huyện Yên Bình, xã Phan Thanh, Tân Lập huyện Lục Yên, xã An Bình, Nà Hẩu huyện Văn Yên. Kết hợp với trợ giúp pháp lý tổ chức phổ biến một số quy định của pháp luật về lĩnh vực đất đai, môi trường, chế độ chính sách v.v.

- Tiến hành kiểm tra hoạt động trợ giúp pháp lý đối với các luật sư cộng tác viên thông qua các hồ sơ vụ việc tham gia tố tụng và kiểm tra quá trình tổ chức sinh hoạt tại Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý thị trấn Yên Thế huyện Lục Yên.

Thực hiện TGPL, trong năm 2011 đã cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đối tượng yêu cầu trợ giúp pháp lý. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội tỉnh, Sở Lao động, thương binh và xã hội, Uỷ ban nhân dân phường Đồng Tâm – thành phố Yên Bái xem xét giải quyết các yêu cầu trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý. Tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại 25 xã. Tổng số vụ việc trợ giúp pháp lý là 412 vụ việc cho 412 đối tượng, cụ thể: hôn nhân - gia đình: 25; đất đai: 85; Hình sự: 11; dân sự: 46; bảo hiểm xã hội: 05; khiếu nại, tố cáo: 03; pháp luật ưu đãi người có công, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, ưu đãi XH khác: 152;  lĩnh vực khác: 85 vụ việc.

- Tham gia góp ý kiến vào dự thảo xếp hạng của Trung tâm trợ giúp pháp lý và quy định chuẩn tiếp cận pháp luật của xã, phường; phối hợp với Phòng Tư pháp Trấn Yên để Đoàn kiểm tra của Cục trợ giúp pháp lý kiểm tra việc tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở, phỏng vấn và lấy ý kiến đóng góp của người dân và cán bộm công chức xã về về xây dựng chuẩn tiếp cận pháp luật.

Nhìn chung công tác Trợ giúp pháp lý trong năm 2011 đã có nhiều chuyển biến cơ bản: về tổ chức bộ máy, cán bộ, viên chức của Trung tâm không ngừng được củng cố và tăng cường kể cả về số lượng và chất lượng cán bộ, viên chức. Hoạt động TGPL được Trung tâm triển khai có hiệu quả, đảm bảo tất cả các đối tượng có yêu cầu trợ giúp pháp lý đều được trợ giúp pháp lý kịp thời, hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động đã được tổ chức tại các xã đặc biệt khó khăn, đến tận các thôn, bản nơi có đông đồng bào dân tộc và người nghèo sinh sống, quá trình tuyên truyền các văn bản pháp luật phù hợp với nhu cầu của người dân và chính quyền cơ sở, qua đó góp phần hạn chế các vi phạm pháp luật trong nhân dân, nhận thức hiểu biết về pháp luật của nhân dân được nâng lên.

7. Công tác cải cách hành chính, cải cách Tư pháp

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước. Với quan điểm chỉ đạo cải cách hành chính gắn với cải cách Tư pháp, Sở Tư pháp đã triển khai thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, cải cách Tư pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Ngành và của địa phương. Trọng tâm là công tác cải cách thể chế trong lĩnh vực quản lý của Ngành, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, rà soát thủ tục hành chính, củng cố tổ chức bộ máy, cải tiến lề lối làm việc trong các cơ quan, đơn vị do Ngành trực tiếp quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và từng bước hiện đại hoá nền hành chính.

Thường xuyên chỉ đạo các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc đẩy mạnh công tác Cải cách hành chính gắn với Cải cách Tư pháp, từng bước cải tiến lề lối làm việc, thực hiện đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các cuộc họp, hội nghị được đổi mới cách thức tổ chức, thành phần tham dự và rút ngắn về thời gian nhưng vẫn đảm bảo nội dung và chất lượng.

 Tiếp tục áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 tại đơn vị.

Xây dựng trình UBND tỉnh công bố thủ tục hành chính ban hành mới; thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tư pháp; UBND cấp huyện và UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Việc triển khai công tác cải cách tư pháp, cải cách hành chính tại đơn vị đã có những tác động tích cực đến hiệu quả công tác Tư pháp. Qua đánh giá các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc đều thực hiện tốt các quy trình, thủ tục hành chính Tư pháp trong quá trình giải quyết công việc. Đội ngũ cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ trực tiếp giải quyết công việc đều nêu cao tinh thần, trách nhiệm, có thái độ hòa nhã khi thi hành công vụ, không có hiện tượng sách nhiễu, gây phiền hà đối với các tổ chức, công dân khi đến giao dịch, liên hệ công việc.

8. Công tác Thanh tra, tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Công tác Thanh tra và tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được Lãnh đạo Sở quan tâm chỉ đạo và duy trì tổ chức thực hiện có hiệu quả, Thanh tra Sở đã chủ động tham mưu cho lãnh đạo ra Quyết định số 02/QĐ-STP ngày 19/01/2011 phê duyệt kế hoạch Thanh tra của Ngành năm 2011; Quyết định số 04/QĐ-STP kiện toàn đội ngũ cộng tác viên thanh tra tư pháp. Xây dựng công văn số 04/STP-TTr ngày 06/01/2011 về việc chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công văn số 61/STP-TTr ngày 30/3/2011 về chỉ đạo công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

8.1. Công tác thanh tra, kiểm tra

Thực hiện Kế hoạch công tác thanh tra năm 2011, trong năm 2011 đã tiến hành 01 cuộc kiểm tra tại đơn vị cấp huyện và 02 cuộc thanh tra tại các đơn vị trực thuộc Sở, cụ thể:

- Xây dựng Quyết định số 10/QĐ-STP và Kế hoạch số 10/KH-STP ngày 31/3/2011 về việc kiểm tra công tác Tư pháp tại huyện Yên Bình và tổ chức thực hiện; xây dựng thông báo kết luận kiểm tra.

- Xây dựng Quyết định số 33/QĐ-STP ngày 13/6/2011 về thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng tại phòng công chứng số 2 và tiến hành thanh tra từ ngày 27/6 đến hết ngày 1/7/2011; xây dựng Kết luận số 01/KL-TTr ngày 26/7/2011 kết luận thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại Phòng công chứng số 2 tỉnh Yên Bái; công văn số 12/STP-TTr ngày 25/8/2011 về việc đôn đốc thực hiện Kết luận thanh tra đối với phòng công chứng số 2.

- Xây dựng Quyết định số 48 ngày 30/8/2011 của Sở Tư pháp và Kế hoạch thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Yên Bái và tổ chức thực hiện.

8.2. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trong thời gian qua, nhất là sau khi tổng kết việc thực hiện Chỉ thị số 09 CT/TW ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và pháp luật về khiếu nại, tố cáo đến nay, tình hình khiếu nại tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của ngành Tư pháp Yên Bái đã có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được cấp ủy và chính quyền quan tâm, chú trọng, xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của đơn vị. Luôn có sự chỉ đạo sát sao đối với công tác tuyên truyền trong toàn ngành. Việc tuyên truyền các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo luôn được cấp ủy đảng, chính quyền cơ quan quan tâm chỉ đạo thực hiện, coi đó là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp. Số vụ việc khiếu nại hàng năm ngày càng giảm, không có tình trạng khiếu nại kéo dài, vượt cấp, không để xảy ra các điểm nóng về khiếu kiện cũng như không có các đoàn khiếu kiện đông người về trung ương. Không có đơn thư tố cáo. Đến nay toàn ngành không có đơn thư khiếu nại, tố cáo về đạo đức, lối sống, về hành vi tham nhũng đối với cán bộ công chức, viên chức trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ.

Trong năm 2011, tổng số đơn khiếu nại nhận được là 04 đơn, giảm 15% so với năm 2010.

8.3. Công tác phòng, chống tham nhũng

Công tác phòng chống tham nhũng đư­ợc tổ chức và thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của pháp luật. Thư­ờng xuyên quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức nghiên cứu học tập, thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng. Có sự phân công chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng cụ thể, rõ ràng trong lãnh đạo Sở và các tổ chức đoàn thể, trong đó Thanh tra Sở có trách nhiệm trực tiếp tham mưu giúp Giám đốc Sở đôn đốc thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng, lãng phí của ngành giai đoạn 2006 – 2010. Chủ động xây dựng các công văn, kế hoạch triển khai thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng của ngành giai đoạn 2010-2020, đôn đốc việc triển khai thực hiện. Trong năm đã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, cụ thể: Quyết định số 41/QĐ-STP ngày 13/10/2010 ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Công văn số 430/STP-TTr ngày 25/11/2010 hướng dẫn triển khai Kế hoạch phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Công văn số 05/CV-TTr ngày 02/3/2010 về hướng dẫn triển khai thực hiện Thông tư số 01/2010/TT-TTCP ngày 22/ 01/2010 Thanh tra Chính phủ  sửa đổi bổ xung một số quy định tại Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng  11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ hư­ớng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản; Công văn 06/CV-TTr ngày 27/4/2010 về việc đính chính Thông tư số 01/2010/TT-TTCP theo hướng dẫn tại văn bản số 395/TTCP-C.IV ngày 08/3/2010 của Thanh tra Chính phủ; Công văn số 440/STP-TTr ngày 06/12/2010 của Sở Tư pháp về việc rà soát hướng dẫn, đôn đốc kê khai tài sản thu nhập năm 2010; Quyết định số 51/QĐ-STP ngày 22/12/2010 của Sở Tư pháp về việc Phê duyệt Kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2011.

- Xây dựng báo cáo tình hình, kết quả công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2006-2010 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2011-2015; báo cáo thực hiện Luật Thanh tra, Luật khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện việc kê khai tài sản năm 2010; báo cáo đánh giá tổng kết việc thực hiện các quy định của pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập năm 2010.

9. Công tác tổ chức xây dựng ngành, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; kết quả triển khai Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV

Tiếp tục thực hiện Thông Tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của liên bộ Tư pháp - Nội vụ về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã; Quyết định số 1421/QĐ-UBND ngày 22/9/2009 về việc quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở Tư pháp Yên Bái. Xây dựng trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ký ban hành Quyết định quy định vị trí, chức năng, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý; quyết định giao bổ sung biên chế cho Trung tâm, quyết định thành lập các chi nhánh của Trung tâm. Xây dựng phương án quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp phòng và tương đương giai đoạn 2011-2015; kế hoạch luân chuyển cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo cấp phòng và tương đương năm 2011. Thực hiện việc rà soát số lượng cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã tham gia cấp uỷ đảng địa phương theo yêu cầu Bộ Tư pháp. Sở Tư pháp hiện có 07 tổ chức giúp việc Giám đốc Sở, 04 đơn vị trực thuộc với 67 biên chế.

Trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định bổ nhiệm 04 trợ giúp viên pháp lý. Quyết định bổ nhiệm 01 Phó giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý, phó phòng nghiệp vụ, phó phòng Hành chính – Tổng hợp của Trung tâm trợ giúp pháp lý, Trưởng Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 1, số 2. Quyết định tuyển dụng 01 công chức; hợp đồng trong biên chế 01 công chức. Đề nghị Bộ Tư pháp cấp, đổi thẻ cho 06 công chứng viên; quyết định kiện toàn đội ngũ cộng tác viên thanh tra tư pháp. Xây dựng Kế hoạch đào tạo cán bộ công chức năm 2011 và những năm tiếp theo. Xây dựng kế hoạch số 30/KH-STP ngày 12/7/2011 triển khai Quyết định số 862/QĐ-BTP ngày 31/5/2011 của Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án tổng rà soát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, tổng hợp xây dựng báo cáo kết quả rà soát theo yêu cầu. Triển khai Thông tư số 08/2011/TT-BTP ngày 05/4/2011 hướng dẫn một số nội dung về công tác thống kê của ngành Tư pháp tới các phòng nghiệp vụ, đơn vị trực thuộc Sở và Phòng Tư pháp cấp huyện. Bố trí sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, sở trường công tác theo chỉ tiêu biên chế được giao.

Tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã năm 2010. Cử nhiều lượt công chức đi đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, chính trị; tổ chức đoàn cán bộ của tỉnh Yên Bái tham dự lớp tập huấn nghiệp vụ pháp chế, tập huấn Thông tư số 08/2011/TT-BTP ngày 05/4/2011 hướng dẫn một số nội dung về công tác thống kê của ngành Tư pháp; tham dự các lớp tập huấn nghiệp vụ khác do Bộ Tư pháp và địa phương tổ chức. Thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách theo quy định của nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức.

- Triển khai thực hiện Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/10/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính; Quyết định số 1699/QĐ-TTg ngày 20/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; đồng thời thực hiện yêu cầu tại Công văn số 1189/UBND-KSTT ngày 10/6/2011 của UBND tỉnh về quán triệt thực hiện Nghị định 63/2010/NĐ-CP, Nghị định 20/2008/NĐ-CP và Chỉ thị 11/CT-UBND ngày 29/7/2011 của UBND tỉnh, Sở Tư pháp đã tổ chức quán triệt sâu rộng nội dung các văn bản nêu trên đồng thời thực hiện nghiêm túc việc giải quyết các thủ tục hành chính theo đúng Bộ thủ tục hành chính đã được Chủ tịch UBND tỉnh công bố; xây dựng biểu mẫu, danh mục trình UBND tỉnh công bố thủ tục hành chính ban hành mới; thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP.

- Tăng cường sử dụng văn bản điện tử, thông qua việc sử dụng thư điện tử, khai thác mạng nội bộ (LAN) và mạng Intenert của Sở đảm bảo phục vụ cho công tác tra cứu văn bản góp phần nâng cao hiệu quả công tác của Ngành, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tham mưu, tổng hợp được sử dụng đã góp phần nâng cao hiệu quả công việc, giảm được văn bản, giấy tờ hành chính, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống mạng nội bộ, thư điện tử, công cụ tìm kiếm và thường xuyên cặp nhật thông tin soạn thảo, góp ý, chỉnh sửa văn bản bằng hình thức văn bản điện tử... đưa ứng dụng công nghệ thông tin nhằm năng cao năng xuất, hiệu quả công việc của đơn vị, phục vụ cho công tác cải cách thủ tục hành chính phục vụ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch làm việc.

- Tổng kết công tác thi đua năm 2010, tổ chức khen thưởng cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích; phát động phong trào thi đua năm 2011. Đăng ký thi đua năm 2011 với Uỷ ban nhân dân tỉnh, Bộ Tư pháp và khu vực thi đua khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền núi phía Bắc. Báo cáo tổng kết công tác thi đua – khen thưởng năm 2011; tổng hợp hồ sơ đề nghị khen thưởng của các tập thể, cá nhân đạt thành tích năm 2011. Tham dự Hội nghị tổng kết công tác thi đua khối cơ quan tư pháp các tỉnh miền núi phía Bắc.

- Xây dựng dự thảo báo cáo của UBND tỉnh về tình hình thực hiện Nghị định số 78/2008/NĐ-CP; báo cáo cải cách hành chính năm 2010; báo cáo việc chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP; báo cáo số lượng, chất lượng cán bộ công chức viên chức, tăng giảm biên chế năm 2010; báo cáo công tác cải cách tư pháp năm 2010; báo cáo xây dựng đơn vị văn hoá năm 2010; báo cáo hoạt động phụ trách, giúp đỡ xã Hồ Bốn – huyện Mù Cang Chải năm 2010; báo cáo hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính; báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý. Báo cáo quyết toán kinh phí 6 tháng đầu năm 2011. Phối hợp với Sở Tài chính duyệt quyết toán năm 2010 đối với các đơn vị trực thuộc Sở.

- Xây dựng, sửa đổi, bổ sung các loại quy chế: Quy chế làm việc của cơ quan; quy chế chi tiêu nội bộ; quy chế bảo vệ bí mật nhà nước; quy chế thi đua – khen thưởng.

10. Các công tác khác:

Công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể trong sạch, vững mạnh được quan tâm trú trọng. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các tổ chức cơ sở Đảng, đoàn thể quần chúng đã thực hiện tốt việc phối hợp với đảng uỷ, chính quyền trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan.

Cùng với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn công chức toàn ngành tích cực tham gia các phong trào do ngành và địa phương phát động. Gắn các hoạt động phong trào với công tác thi đua hoàn thành nhiệm vụ, trong năm ngành Tư pháp Yên Bái đã tổ chức tốt các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ công chức, tích cực hưởng ứng tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo do ngành và địa phương phát động.

Nhìn chung, trong năm qua công tác xây dựng Ngành đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. ngành Tư pháp Yên Bái tiếp tục được duy trì ổn định về tổ chức bộ máy từ tỉnh xuống cơ sở. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác Tư pháp đã được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, từng bước đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ được giao, phục vụ tốt cho việc triển khai thực hiện đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực công tác của toàn Ngành.

*Đánh giá chung: Trong năm 2011, ngành Tư pháp Yên Bái đã triển khai đồng bộ và đạt hiệu quả cao trên tất cả các lĩnh vực công tác, quản lý: Công tác xây dựng và thẩm định VBQPPL đã đi vào nề nếp đạt hiệu quả, các văn bản thẩm định đều có chất lượng đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; công tác rà soát, kiểm tra văn bản được tiến hành thường xuyên, kịp thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật giúp chính quyền các cấp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước tại địa phương; công tác PBGDPL được tăng cường và đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến với nhân dân; nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền đa dạng phù hợp với từng đối tượng tuyên truyền; công tác TGPL lưu động được đẩy mạnh, mở rộng mạng lưới các Câu lạc bộ, tổ và các Cộng tác viên TGPL tại các huyện, xã trên địa bàn toàn tỉnh; Các hoạt động về hộ tịch, luật sư, công chứng, giám định được thực hiện theo đúng quy định, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động quản lý Nhà nước đáp ứng nhu cầu của nhân dân; Công tác xây dựng ngành đã đạt được nhiều kết quả tốt. Tổ chức bộ máy được củng cố và duy trì ổn định từ tỉnh xuống cơ sở. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác Tư pháp từng bước được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác Tư pháp năm 2011. Những kết quả trên đây đã phản ánh sự quyết tâm cao của tập thể cán bộ, công chức trong toàn ngành phát huy nội lực, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó, công tác tư pháp còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém cần kịp thời chấn chỉnh rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ được giao như: Công tác thông tin báo cáo định kỳ còn chưa đảm bảo theo quy định của ngành (nhất là các đơn vị cấp huyện); tính chủ động tham mưu cho lãnh đạo Sở của một số bộ phận chuyên môn còn hạn chế làm giảm hiệu quả thực hiện nhiệm vụ công tác trong toàn ngành.

II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CÔNG TÁC TƯ PHÁP NĂM 2012

Trong năm 2012, ngành Tư pháp Yên Bái tiếp tục quán triệt, triển khai các nhiệm vụ công tác trọng tâm của Ngành, của đơn vị; các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ dưới đây:

 1. Công tác xây dựng, thẩm định; kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; quản lý Nhà nước về bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính; theo dõi thi hành pháp luật

- Xây dựng dự thảo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành “Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Hội đồng nhân dân tỉnh và Chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái”; Dự thảo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc điều chỉnh, bổ sung “Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Hội đồng nhân dân tỉnh và Chương trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái”. Tham mưu xây dựng các văn bản về thể chế, nguồn lực để Ủy ban nhân dân tỉnh trình HĐND tỉnh thông qua hoặc UBND tỉnh xem xét ban hành theo thẩm quyền; ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tư pháp. Tổ chức tham gia ý kiến và thẩm định các dự thảo văn bản do các cơ quan ban ngành gửi đến.

- Tự kiểm tra 100% các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành. Kiểm tra theo thẩm quyền văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của 09/09 huyện, thị xã, thành phố ban hành. Thực hiện đầy đủ quy trình, thủ tục nghiệp vụ và tăng cường công tác phối hợp trong việc phát hiện, đề nghị xử lý các văn bản được ban hành có dấu hiệu trái pháp luật.

- Thực hiện công tác rà soát văn bản thường xuyên. Tham mưu để Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, công bố văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thi hành định kỳ 06 tháng theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004.

- Phối hợp tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính bảo đảm tính chiều sâu, hiệu quả.

- Tăng cường vai trò đấu mối, phối hợp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật có trọng tâm, trọng điểm. Kịp thời tổ chức triển khai thực hiện Nghị định về theo dõi thi hành pháp luật khi được Chính phủ ban hành.

2. Công tác hành chính tư pháp.

- Chứng thực: Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về công tác chứng thực. Hướng dẫn và cung cấp sổ chứng thực theo yêu cầu của cơ sở, đảm bảo công tác chứng thực ở cở sở được ghi chép và theo dõi đầy đủ theo quy định.

- Hộ tịch: Triển khai Kế hoạch số 36/KH-STP ngày 09/9/2011 về kiểm tra công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, công tác sử dụng biểu mẫu hộ tịch, sổ hộ tịch, công tác chứng thực. Thực hiện các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền cấp tỉnh; hướng dẫn và giải đáp những vướng mắc của cơ sở về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong quá trình thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Tiếp tục chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố rà soát, giải quyết các trường hợp nuôi con nuôi thực tế, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của công dân, đôn đốc cơ sở thực hiện nghiêm túc Thông tư số 08a/2010/TT-BTP ngày 26/3/2010 của Bộ Tư pháp và Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tăng cường công tác đăng ký và quản lý hộ tịch.

- Lý lịch tư pháp: Tiếp nhận, giải quyết kịp thời đúng pháp luật yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan để cập nhật đầy đủ, chính xác các thông tin về Lý lịch tư pháp theo quy định của Luật lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Phối hợp với Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia – Bộ Tư pháp xây dựng hệ thống phần mềm về quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp phục vụ cho việc tra cứu, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho cá nhân, tổ chức, tổ chức chính trị xã hội, cơ quan tiến hành tố tụng khi có yêu cầu, đảm bảo nhanh chóng, kịp thời.

3. Công tác Bổ trợ tư pháp

- Công chứng: Tổ chức tiếp nhận, giải quyết đáp ứng các yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức.

- Công tác luật sư, tư vấn pháp luật: Tăng cường quản lý hoạt động của Đoàn luật sư và các Văn phòng luật sư, Trung tâm tư vấn pháp luật. Chỉ đạo tổ chức đại hội đoàn luật sư nhiệm kỳ 2011-2014. Báo cáo tổng kết 05 năm thi hành Luật Luật sư.

- Công tác giám định: Tổ chức tập huấn nghiệp vụ giám định tư pháp và kiến thức pháp luật theo Kế hoạch số 10/KH-UBND ngày 29/11/2010 của UBND tỉnh  Yên Bái. Triển khai Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”.

- Đấu giá tài sản: Tiếp tục triển khai Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh. Tổ chức bán đấu giá các loại tài sản theo quy định pháp luật.

- Giao dịch bảo đảm: Tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

4. Công tác phổ biến giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở

- Xây dựng báo cáo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của Hội đồng năm 2011; kế hoạch kiểm tra và thực hiện kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Hội đồng phối hợp công tác PB.GDPL của tỉnh.

- Tập huấn kiến thức pháp luật cho cán bộ pháp chế và đội ngũ làm công tác phổ biến pháp luật tại các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan tổ chức tập huấn cho các đối tượng là thanh niên, dân quân tự vệ, người lao động, doanh nghiệp, hội viên hội luật gia…

- Phát hành Bản tin Tư pháp theo định kỳ. Xây dựng Bộ sách Hỏi – đáp pháp luật; tờ rơi, tờ gấp, đề cương giới thiệu văn bản pháp luật mới ban hành. Biên soạn và in sao đĩa tuyên truyền pháp luật.

- Tiếp tục thực hiện các chuyên mục trên Báo, Đài địa phương theo nội dung ký kết Kế hoạch phối hợp liên ngành giữa Sở Tư pháp, Báo Yên Bái, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Tiếp tục tổ chức triển khai các nội dung khác của Đề án tuyên truyền PBGDPL trên địa bàn tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 06/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Yên Bái.

5. Công tác trợ giúp pháp lý

- Tiếp tục củng cố, kiện toàn các phòng nghiệp vụ và Chi nhánh của Trung tâm theo Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày 15/9/2010 và Quyết định số 330/QĐ-UBND ngày 15/3/2011 của UBND tỉnh. Phối hợp với Phòng Tư pháp, UBND huyện Văn Yên bố trí địa điểm làm việc cho Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, tuyển dụng cán bộ, viên chức làm việc tại các chi nhánh theo chỉ tiêu biên chế của UBND tỉnh giao năm 2012.

- Triển khai thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2010-2020.

- Tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý theo các Chương trình, dự án. Tăng cường các hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động từ 25 đến 30 xã thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình 135 giai đoạn II đặc biệt là ở các xã thuộc 2 huyện thực hiện nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo của cả nước. Kết hợp trợ giúp pháp lý lưu động với phổ biến pháp luật chuyên đề.

- Hướng dẫn, đôn đốc hoạt động và thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; chi trả kinh phí sinh hoạt Câu lạc bộ cho các xã thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo.

- Tổ chức triển khai, thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tỉnh Yên Bái, tổng kết hoạt động của Hội đồng năm 2011.

6. Công tác thanh tra, kiểm tra

- Xây dựng triển khai và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra theo luật định việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ đư­ợc giao của các đơn vị trực thuộc sở, kết hợp với thanh tra việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức cơ quan đơn vị khi có đơn thư hoặc phát hiện có dấu hiệu vi phạm của tổ chức, cá nhân thuộc lĩnh vực quản lý nhà nư­ớc của Sở Tư­ pháp.

- Thực hiện thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành theo quy định. Thực hiện thanh tra đột xuất đối với tổ chức, cá nhân thuộc lĩnh vực quản lý nhà nư­ớc của Sở Tư­ pháp khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm.

- Thực hiện tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo khi có đơn thư­ hoặc phát hiện có dấu hiệu vi phạm của tổ chức, cá nhân thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Sở Tư­ pháp. Tích cực giải quyết kịp thời, dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực t­ư pháp tại địa phư­ơng.

- Tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện chiến lư­ợc quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020 thiết thực, hiệu quả.

7. Công tác tổ chức xây dựng ngành, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; công tác thi đua khen thưởng và việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo

- Xiết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính trong việc thực thi nhiệm vụ, thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo với Tỉnh uỷ, HĐND, UBND và Bộ Tư pháp.

- Tiếp tục rà soát, đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy, cán bộ tư pháp từ tỉnh tới xã; việc sắp xếp, bố trí cán bộ; đề xuất với HĐND, UBND tỉnh tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan tư pháp theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV, nhất là đội ngũ cán bộ tư pháp cấp huyện và cấp xã và pháp chế các sở, ngành.

- Quyết định cử cán bộ, công chức đi học các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ, chính trị, ngoại ngữ, tin học, quản lý nhà nước do Bộ Tư pháp và tỉnh tổ chức. Thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức.

- Tổ chức tổng kết phong trào thi đua yêu nước năm 2011, phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2012. Vận động cán bộ, công chức trong toàn Ngành tập trung triển khai mọi nguồn lực, khắc phục khó khăn, lập thành tích cao nhất trên tất cả các mặt công tác để kỷ niệm 67 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp Việt Nam, chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước và của tỉnh.

III. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

- Đề nghị UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo củng cố tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của các cơ quan Tư pháp các cấp ở địa phương, đặc biệt chú trọng việc bố trí, sắp xếp cán bộ có đủ trình độ, năng lực làm công tác tư pháp - hộ tịch cấp xã.

- Đề nghị Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác Tư pháp ở địa phương, chú trọng một số lĩnh vực mới triển khai thực hiện hoặc có nhiều khó khăn, vướng mắc như công tác theo dõi thi hành pháp luật, công tác pháp chế, công tác quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính v.v.

- Đề nghị UBND tỉnh quan tâm, xem xét nâng định mức kinh phí ngân sách cấp hàng năm đối với Trung tâm trợ giúp pháp lý vì Trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập không có thu, 100% kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, người đứng đầu đơn vị là công chức nhưng kinh phí lại được cấp theo định mức kinh phí biên chế sự nghiệp, mặt khác Trung tâm thường xuyên thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý cơ sở. Đề nghị có cơ chế, chính sách phù hợp để hỗ trợ cho các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý và động viên khuyến khích những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý.

Trên đây là Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ công tác Tư pháp năm 2012. Sở Tư pháp Yên Bái trân trọng báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tư pháp./.

Tệp đính kèm