Quy hoạch phát triển

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái thời kỳ 2006 - 2020

Cập nhật lúc: 11:07 SA, ngày 06/08/2009.

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt Dự án quy hoạch tổng thể

phát triển kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái thời kỳ 2006 - 2020

       

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

 

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26/11/2003;

Căn cứ Chỉ thị số 32/1998/CT-TTg ngày 23/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về công tác Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội  thời kỳ đến 2010;

            Căn cứ Thông tư số 05/TT-BKH ngày 22/7/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về nội dung, trình tự lập, thẩm định và quản lý các quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ;

Căn cứ Quyết định số 494/2005/QĐ-UBND ngày 15/12/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006;

            Căn cứ Quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 16/02/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc giao nhiệm vụ xây dựng Dự án điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái thời kỳ 2001 - 2010 và đến năm 2015;

Theo đề nghị của Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 19/TTr-SKHĐT ngày 24/01/2007 về việc xin phê duyệt Dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái thời kỳ 2006 - 2020,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Điều 1. Phê duyệt Dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái thời kỳ 2006 - 2020 với một số nội dung chủ yếu như sau:

            1) Mục tiêu tổng quát

Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tập trung mọi nguồn lực xây dựng thành phố thực sự trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh, có vị trí quan trọng trong khu vực miền núi phía Bắc và trong chuỗi đô thị Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai. Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng. Mở rộng thành phố để tiếp cận và tăng thêm các nguồn lực, nắm bắt các cơ hội phát triển của tỉnh, của khu vực và cả nước. Xây dựng thành phố thành trung tâm động lực thúc đẩy các huyện, thị phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Phát triển văn hoá xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; thực hiện mục tiêu giảm nghèo; giải quyết cơ bản các vấn đề xã hội bức xúc; bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái; củng cố quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

2) Một số chỉ tiêu chủ yếu

Từ thời kỳ sau năm 2010 các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của thành phố được xem xét tính toán trên cơ sở dự kiến mở rộng địa giới hành chính thêm 6 xã của huyện Trấn Yên.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế:

+ Thời kỳ 2006 - 2010 tăng bình quân 16%, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 10%, Công nghiệp, xây dựng tăng 18,35%, Dịch vụ tăng 14%.

+ Thời kỳ 2011 - 2015 tăng bình quân 16,5%, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 7%, Công nghiệp, xây dựng tăng 18,55%, Dịch vụ tăng 14,5%.

+ Thời kỳ 2016 - 2020 tăng bình quân 17%, trong đó: Nông lâm nghiệp tăng 6%, Công nghiệp, xây dựng tăng 18,65%, Dịch vụ tăng 15%.

- Cơ cấu kinh tế (%):            Năm 2010       Năm 2015          Năm 2020

+ Nông lâm nghiệp                        2,0                     2,0                             1,0

+ Công nghiệp, xây dựng                        50,0                   51,0                           50,0

+ Dịch vụ                                                48,0                   47,0                           49,0

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 21,8 triệu đồng, năm 2015 đạt 40 triệu đồng, năm 2020 đạt 62,7 triệu đồng.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ năm 2010 ổn định ở mức 0,65%.

            - Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 2,25% năm 2010 và 1% vào năm 2015.

- Năm 2010 có 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

            - Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2010 xuống còn 8%, năm 2015 còn 6%.

3) Mục tiêu phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu:

a) Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Tập trung nguồn lực và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành  công nghiệp có lợi thế như: khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sứ cách điện, chế biến nông lâm sản,… Từng bước phát triển các ngành lắp ráp sản phẩm điện tử, xe máy, cơ khí chính xác và tự động hoá,…

Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 950.200 triệu đồng, bình quân 5 năm 2006 - 2010 tăng 19,75%, năm 2015 đạt 2.414.200 triệu đồng, bình quân 5 năm 2011 - 2015 tăng 20,5%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu dự kiến như sau:

 

 

Năm 2010

Năm 2015

- Chè chế biến (tấn)

5.000

10.000

- Fenspat (tấn)

100.000

200.000

- Cao lanh tinh (tấn)

30.000

50.000

- Gạch nung (1.000 viên)

60.000

100.000

- Giấy đế (tấn)

30.000

50.000

- Sứ điện (tấn)

3.500

7.000

- Thuốc viên (triệu viên)

300

350

- Nước sạch (1.000 m3)

2.500

4.500

b) Thương mại dịch vụ:

Tập trung phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ: thương mại, xuất khẩu, du lịch, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân,… Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế trong và ngoài thành phố đầu tư không hạn chế để phát triển các ngành dịch vụ.

Phấn đấu giá trị sản xuất dịch vụ năm 2010 đạt 900.400 triệu đồng, bình quân 5 năm 2006 - 2010 tăng 14,4%, năm 2015 đạt 1.811.200 triệu đồng, bình quân 5 năm 2011 - 2015 tăng 15%. 

 

Năm 2010

Năm 2015

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội (tỷ đồng)

1.600

3.200

- Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)

15

30

- Thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng)

250

500

- Số máy điện thoại/100 dân (máy)

50

65

- Số lượng khách du lịch (1.000 lượt người)

250 - 300

400 - 450

- Doanh thu du lịch (tỷ đồng)

70

120

 

c) Nông lâm nghiệp:

Phát triển một nền nông lâm nghiệp sạch và bền vững. Tăng nhanh giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích, nâng cao tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp. Sản xuất các sản phẩm mang tính hàng hoá, phục vụ nhu cầu của thành phố và từng bước hướng tới xuất khẩu. Từ sau năm 2011, quy hoạch lại vùng sản xuất nông lâm nghiệp trên cơ sở các xã mới sáp nhập vào thành phố theo hướng sản xuất chuyên canh. Tập trung đầu tư có trọng điểm để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.

Phấn đấu giá trị sản xuất nông lâm nghiệp năm 2010 đạt 70.000 triệu đồng, bình quân 5 năm 2006 - 2010 tăng 12,2%; năm 2015 đạt 100.400 triệu đồng, bình quân 5 năm 2011 - 2015 tăng 7,5%. Một số sản phẩm nông lâm nghiệp dự kiến như sau:

 

 

Năm 2010

Năm 2015

- Sản lượng lương thực có hạt (tấn)

2.500

6.070

    + Sản lượng thóc (tấn)

2.200

5.170

- Đàn trâu (con)

450

1.300

- Đàn bò (con)

3.000

4.500

- Đàn lợn (con)

50.000

70.000

- Đàn gia cầm (con)

350.000

700.000

- Tỷ lệ che phủ của rừng (%)

39,25

41,74

- Sản lượng thuỷ sản (tấn)

130

260

d) Các lĩnh vực văn hoá xã hội:

- Dân số, lao động, xóa đói giảm nghèo: Duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, dự kiến năm 2010 dân số trung bình là 100.000 người, năm 2015 là 130.000 người, năm 2020 là 200.000 người. Dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 là  57.000 người, năm 2015 là 75.400 người. Lao động trong các ngành kinh tế quốc dân năm 2010 là 44.460 người, năm 2015 là 56.320 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 đạt 70% và duy trì ổn định đến năm 2015. Khuyến khích phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Thực hiện giảm nghèo, hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, nhất là giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, dự kiến giai đoạn 2006 - 2010 mỗi năm giảm từ 0,5 - 1,5% số hộ nghèo.

- Giáo dục đào tạo: Phát triển sự nghiệp giáo dục theo hướng sâu rộng, vững chắc, chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên cân đối về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ đào tạo. Phát triển các trường ngoài công lập, kể cả trường dạy nghề. Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục TH và THCS, phấn đấu năm học 2009 - 2010 hoàn thành phổ cập giáo dục THPT.

- Y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, chủ động phòng chống các loại dịch bệnh. Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác y tế, từng bước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện. Đến năm 2010 giảm tỷ lệ mắc bướu cổ xuống 3% và năm 2015 còn 1,5% dân số; khống chế tỷ lệ mắc sốt rét còn 0,01% dân số. Năm 2010 có 30 bác sỹ/1 vạn dân, năm 2015 có 32 bác sỹ/1 vạn dân; năm 2010 có 104 giường bệnh/1 vạn dân và duy trì ổn định đến năm 2015.

- Văn hoá, thể thao, phát thanh truyền hình:

+ Phấn đấu đến năm 2010 có 90% hộ gia đình; 95% cơ quan, đơn vị; 55% thôn, tổ dân số đạt tiêu chuẩn văn hoá. Năm 2015 có 92% hộ gia đình; 97% cơ quan, đơn vị; 57% thôn, tổ dân số đạt tiêu chuẩn văn hoá. Nâng cấp, cải tạo Rạp chiếu bóng Hồng Hà thành nhà văn hoá đa năng thành phố. Xây dựng các nhà văn hoá xã, phường; thư viện thành phố. Quy hoạch tôn tạo hệ thống di tích lịch sử, văn hoá trên địa bàn thành phố.

+ Xây dựng các thiết chế thể thao của thành phố và các xã, phường. Từng bước đầu tư xây dựng khu liên  hợp thể thao hiện đại đảm bảo thi đấu thể thao trong nước và quốc tế. Đến năm 2010 có 40% dân số và năm 2015 có 42% dân số tham gia luyện tập thể thao thường xuyên.

+ Đầu tư các trang thiết bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của công tác phát thanh truyền hình, phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần cho nhân dân. Triển khai dịch vụ truyền hình trả tiền trên địa bàn thành phố, đến năm 2015 có 40% hộ gia đình sử dụng truyền hình cáp trả tiền.

e) Khoa học công nghệ và môi trường:

Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực sản xuất. Tập trung nghiên cứu khoa học, phát minh, cải tiến kỹ thuật nhằm giải quyết những yêu cầu thực tế nảy sinh trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Phấn đấu mỗi năm đổi mới từ 15 - 20% thiết bị công nghệ của các cơ sở sản xuất trên địa bàn.

Chủ động đáp ứng yêu cầu về vệ sinh môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế. Đến năm 2010 có 90% hộ gia đình nội thành và 50% hộ gia đình ngoại thành có các công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn; 100% hộ gia đình thành thị, 30% hộ gia đình nông thôn, 100% doanh nghiệp có dụng cụ phân loại rác thải ngay tại nguồn; 100% khu công cộng có thùng đựng rác thải.

f) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng:

* Giao thông:

- Đường bộ: Phát triển mạng lưới giao thông thành phố phù hợp với quy hoạch, hạn chế phá vỡ địa hình tự nhiên. Phấn đấu đến năm 2010 có từ 50 - 55%, năm 2015 có 65 - 70% đường đạt tiêu chuẩn đường đô thị Việt Nam.

Giai đoạn 2006 - 2010: Xây dựng đường Km 5 - Yên Bình; sửa chữa, nâng cấp đường Yên Bái - Khe Sang, đường Hợp Minh - Mỵ, quốc lộ 32 C đoạn qua thành phố. Phấn đấu đến năm 2010 cơ bản kiên cố hoá các tuyến giao thông nông thôn chính trong thành phố.

Giai đoạn sau 2010: Xây dựng các tuyến: Km 10 - cầu Văn Phú, đường nhánh từ đường Km 10 - cầu Văn Phú vào trung tâm Km 5, đường Khe Sến - Lý Thường Kiệt, đại lộ Xuân Lan, đường Đại Đồng - Tuy Lộc; Nâng cấp đường Km 5 - Đại Đồng, đường từ Báo Yên Bái - cầu Văn Phú; Quốc lộ 37 được nối từ quốc lộ 70 tại ngã tư Cảng Hương Lý với cầu Văn Phú theo quốc lộ 32 nối với quốc lộ 37 tại ngã ba Hợp Minh. Xây dựng và nâng cấp các tuyến giao thông nông thôn còn lại và tại 6 xã mới sáp nhập.

Bến xe: Dự kiến xây dựng các bến xe: bến xe trung tâm gần đại lộ Xuân Lan, bến xe liên tỉnh ở phía hữu ngạn sông Hồng (gần cầu Yên Bái), bến xe phía Nam gần Cầu Văn Phú và một bến xe gần quốc lộ 70.

Cầu qua sông Hồng: Dự kiến xây dựng Cầu Giới Phiên nối từ Giới Phiên sang Tuần Quán, phường Yên Ninh và Cầu Hồng Hà nối từ khu vực gần chợ Yên Bái sang Giới Phiên.

Giao thông nội thành: Quy hoạch các hướng vào thành phố tạo thành 5 cửa ô:

+ Cửa ô số 1: Hướng từ Hà Nội qua thị trấn Yên Bình theo đường Km5 - Yên Bình vào trung tâm thành phố.

+ Cửa ô số 2: Hướng từ Lào Cai qua xã Minh Bảo vào trung tâm thành phố.

+ Cửa ô số 3: Hướng từ huyện Trấn Yên theo đại lộ Xuân Lan vào trung tâm thành phố.

+ Cửa ô số 4: Hướng từ Sơn La qua Cầu Yên Bái vào trung tâm thành phố.

+ Cửa ô số 5: Hướng từ Hà Nội qua Cầu Văn Phú vào trung tâm thành phố.

- Đường sắt: Theo quy hoạch tổng thể phát triển ngành đường sắt Việt Nam, tuyến đường sắt qua trung tâm thành phố sẽ được cải tạo, hướng di chuyển lên phía Bắc, chạy song song với đường Lý Thường Kiệt. Dự kiến sau năm 2020 xây dựng nhà ga thành phố tại xã Tuy Lộc, nâng cấp ga Văn Phú, xây dựng tuyến đường sắt Văn Phú - cảng Hương Lý.

- Đường thuỷ: Nâng cấp, cải tạo và xây dựng các bến cảng: Yên Bái, Văn Phú, Âu Lâu, Tuy Lộc.

* Hệ thống cấp điện:

Xây dựng hệ thống đường dây tải điện: Đường dây 220 KV từ Nhà máy thuỷ điện Na Hang, Tuyên Quang; đường dây 220 KV từ trạm 220 KV Yên Bái đi Lào Cai qua thành phố Yên Bái; đường dây 110 KV mạch kép từ trạm 220 KV Yên Bái đến trạm 110/22KV Khu công nghiệp phía Nam; đường dây 110 KV mạch kép từ trạm 110 KV km 9 đến trạm 110/22KV Âu Lâu.

Xây dựng mới 47 trạm 35/0,4 KV với tổng công suất 10.660 KVA, 24 trạm 22/0,4 KV tổng công suất 7.060 KVA và 23 trạm 10 (22)/0,4 KV tổng công suất 5.300 KVA. Nâng công suất một số trạm 35/0,4 KVA, 10(22)/0,4 KV tổng công suất 4.900 KVA, cải tạo 19 trạm 10/0,4 KV lên 22/0,4 KV với tổng công suất 4.400 KVA. Tiếp tục nâng cấp, cải tạo lưới điện sinh hoạt trong thành phố, đảm bảo 100% số hộ được cấp điện đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật.

* Hệ thống cấp nước:

Xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt đến khu dân cư tổng chiều dài đường ống là 8 km, xây dựng 3 đài chứa nước dung tích 2.000 m3, đến năm 2010 đạt 100 lít nước/người/ngày đêm, năm 2020 đạt 120 lít nước/người/ngày đêm. Tổng công suất cấp nước năm 2010 đạt 22.000 m3/ngày đêm, năm 2020 đạt 46.000 m3/ngày đêm. Duy trì hoạt động của Nhà máy nước Yên Bình công suất 11.500 m3/ngày đêm, Nhà máy nước Yên Bái công suất 5.000 m3/ngày đêm, năm 2020 xây dựng 1 nhà máy nước công suất 5.000 m3/ngày đêm tại Khu công nghiệp phía Nam.

* Hệ thống thông tin liên lạc:

Tiếp tục đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ bưu chính viễn thông. Đến năm 2010 nâng dung lượng tổng đài kỹ thuật số lên 50.000 số; nâng công suất truyền dẫn của trục cáp quang trong thành phố; các phòng, ban của thành phố được kết nối internet và kết nối mạng diện rộng của Chính phủ; 80% cán bộ công chức của thành phố, 40% công chức xã, phường sử dụng thành thạo máy vi tính và internet. Phấn đấu đưa thành phố trở thành địa phương đi đầu trong phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin.

* Cơ sở vật chất ngành y tế:

Giai đoạn 2006 - 2010, nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện nội tiết, Bệnh viện Đông y; Xây dựng Trung tâm y tế dự phòng thành phố, Bệnh viện tư nhân 103.

Giai đoạn từ sau năm 2010, đầu tư nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh, xây dựng các bệnh viện chuyên khoa (sản, nhi, lao, HIV/AIDS,…), khuyến khích thành lập các bệnh viện tư nhân, phòng khám chất lượng cao. Đầu tư  xây dựng cơ sở vật chất các xã còn lại đạt chuẩn quốc gia về y tế.

* Cơ sở vật chất ngành giáo dục:

Đến năm 2010 hoàn thiện mạng lưới trường mầm non, TH và THCS, phấn đấu có 50% trẻ em khuyết tật được học tập, hoà nhập cộng đồng. Đến năm 2010 có 30% trường mầm non, 100% trường TH, 50% trường THCS và 50% trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Năm 2015 (tính cả 6 xã mới sáp nhập) có 50% trường mầm non, 100% trường TH, 50% trường THCS còn lại, 80% trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Giai đoạn 2006 - 2015, xây dựng một trường đại học tư thục, xây dựng một trường đại học cộng đồng, nâng cấp một số trường trung học chuyên nghiệp lên cao đẳng.

g) Phát triển không gian đô thị

Định hướng phát triển không gian đô thị theo Quy hoạch chung thành phố Yên Bái giai đoạn 2006 - 2020 đã được phê duyệt. Dự kiến lấy đô thị hiện có làm hạt nhân, phát triển về các hướng:

- Hướng Đông: Theo đường 37 sát về thị trấn Yên Bình.

- Hướng Tây: Phát triển về phía xã Tuy Lộc và xã Nam Cường.

- Hướng Đông Nam: Phát triển về phía xã Văn Phú và xã Văn Tiến.

- Hướng hữu ngạn sông Hồng: Phát triển sang các xã Âu Lâu, Hợp Minh, Giới Phiên, Phúc Lộc.

Dự kiến thành phố Yên Bái sẽ có 17 đơn vị hành chính (10 phường, 7 xã) với các khu chức năng: Khu công nghiệp kho tàng; Khu cơ quan, trường học; Khu ở dân cư; Khu công viên cây xanh, thể dục thể thao; Khu thương mại dịch vụ; Khu y tế; Khu di tích, văn hoá.

h) Quy hoạch các vấn đề về môi trường

- Hệ thống thoát nước mưa: Khắc phục tình trạng ngập lụt trong thành phố vào mùa mưa. Xây dựng quy hoạch chi tiết các suối thoát nước chính trong thành phố, thực hiện cắm chỉ giới hành lang thoát nước; nghiên cứu xây dựng một số hồ chứa nước phía thượng lưu (phường Yên Thịnh) làm nhiệm vụ phân lũ; cải tạo nâng cốt chống ngập trên các đường Trần Phú, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Cừ, Điện Biên (km 2,5); cải tạo hệ thống cống thoát nước trên một số tuyến đường; quản lý chặt chẽ việc đào, lấp đất các ao, hồ trong thành phố. Xây dựng hệ thống đường ống thoát nước bẩn tập trung, các trạm bơm tăng áp, bơm chuyển bậc, bể điều hoà,… Xây dựng các trạm xử lý nước thải riêng cho các cụm công nghiệp.

- Hệ thống thoát nước bẩn sinh hoạt: Nước bẩn sinh hoạt sẽ được xử lý đạt giới hạn B của tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995 trước khi xả ra nguồn. Khu vực nội thành cũ, dự kiến xây dựng hệ thống thoát nước nửa riêng. Đối với khu dân cư quy hoạch mới, dự kiến xây dựng hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn.

- Hệ thống thoát nước nước thải công nghiệp: Nước thải công nghiệp sẽ được xử lý riêng đạt giới hạn B trước khi xả ra nguồn. Dự kiến Khu công nghiệp phía Nam có 3 trạm xử lý nước thải với tổng công suất 7.050 m3/ngày đêm. Cụm công nghiệp Đầm Hồng có 1 trạm xử lý nước thải có công suất 810 m3/ngày đêm.

- Hệ thống xử lý chất thải rắn: Chất thải rắn đô thị phải được phân loại ngay tại nguồn trước khi thu gom và vận chuyển đến khu xử lý. Đến năm 2020 sẽ xây dựng khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại xã Văn Tiến với diện tích 10 ha, gồm: nhà máy xử lý chất thải rắn thành phân vi sinh, tái chế chất vô cơ; lò đốt chất thải rắn nguy hại, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh...

- Hệ thống nghĩa trang: Dự kiến xây dựng nhà tang lễ gần khu vực Bệnh viện thành phố với diện tích khoảng 500 m2. Sau năm 2010 dự kiến xây dựng một nghĩa trang có diện tích 10 ha tại xã Văn Tiến. Nghĩa trang Đá Bia sẽ trở thành khu cát táng, dự kiến xây dựng thành nghĩa trang công viên.

i) Quốc phòng an ninh

Tiếp tục tăng cường công tác quốc phòng an ninh, kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Xây dựng hoàn thiện các phương án phòng thủ tác chiến, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trạn an ninh nhân dân. Nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và ứng phó của các lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giảm tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông. Tiếp tục xây dựng thành phố Yên Bái là trung tâm tỉnh lỵ, giàu về kinh tế, văn minh và tiến bộ về văn hoá xã hội, mạnh về quốc phòng an ninh và là khu vực phòng thủ vững chắc trong thế trận an ninh quốc phòng của tỉnh và khu vực.

4) Các giải pháp và cơ chế chính sách:

a) Về huy động vốn đầu tư:

Để thực hiện các mục tiêu trong quy hoạch đề ra, dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2006 - 2015 là 13.000 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 1.300 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2006 - 2010 là 4.000 tỷ đồng, thời kỳ 2011 - 2015 là 8.400 tỷ đồng. Dự kiến thời kỳ 2016 - 2020 nhu cầu đầu tư khoảng 19.000 tỷ đồng. Nhu cầu đầu tư rất lớn nên ngoài phát huy nội lực, thành phố cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức quốc tế, sự đầu tư tích cực của các doanh nghiệp và của các tầng lớp nhân dân trong thành phố.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quy mô vừa và nhỏ; sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng phát triển các trang trại quy mô lớn áp dụng công nghệ cao; phát triển mạnh các ngành thương mại, dịch vụ và du lịch.

- Liên kết với các địa phương, các tổng công ty trong nước đầu tư liên doanh trên cơ sở các dự án có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện của thành phố. Đẩy mạnh hình thức đầu tư BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao).

- Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp, khuyến khích các đơn vị có đủ điều kiện tham gia vào thị trường chứng khoán.

- Tích cực vận động các nguồn vốn tài trợ, tạo môi trường thuận lợi, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến công tác đầu tư theo phân cấp quy định.

- Khai thác nguồn vốn từ đấu giá các quỹ đất, đấu thầu các dự án để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng.

b) Về khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường:

Chú trọng việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại vào các ngành, lĩnh vực sản xuất, tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

c) Về đào tạo nguồn nhân lực:

Tăng cường công tác đào tạo nghề, nhất là đào tạo đội ngũ thợ bậc cao trên cơ sở mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghề. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm.

Có cơ chế chính sách cụ thể thu hút nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao cho thành phố. Đào tạo nâng cao nhằm chuẩn hoá đội ngũ cán bộ công chức viên chức thành phố đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Có chính sách thoả đáng giải quyết quyền lợi của người lao động thông qua hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội.

d) Về thị trường:

Xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh trên cơ sở nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Khai thác hiệu quả các thị trường hiện có, mở rộng các thị trường mới, chú trọng các thị trường có nhu cầu hàng hoá phù hợp với năng lực sản xuất của thành phố. Tăng cường công tác quảng bá sản phẩm trên các kênh thông tin. Xây dựng thị trường bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

e) Tổ chức thực hiện:

Tăng cường và đổi mới công tác kế hoạch hoá để quy hoạch thực sự là định hướng cơ bản cho phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Các cấp, các ngành cần có sự phối hợp đồng bộ trong việc triển khai xây dựng và thực hiện quy hoạch.

Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, các phòng, ban của thành phố cần triển khai xây dựng kế hoạch, các chương trình, dự án và tham mưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo quy hoạch và kế hoạch đã đề ra.

Trong quá trình thực hiện quy hoạch, định kỳ 3 - 5 năm cần tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các mục tiêu đã đề ra cho phù hợp với tình hình thực tế và định hướng phát triển của tỉnh.

f) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Tăng cường công tác lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền từ thành phố đến cơ sở. Tiếp tục đổi mới tư duy, phương pháp quản lý và điều hành trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo. Thực hiện nghiêm túc và vận dụng sáng tạo các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào tình hình thực tế của thành phố. Coi trọng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính từ thành phố đến các xã, phường. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật; tạo niềm tin vững chắc cho người dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố.

 

Điều 2. Giao cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Yên Bái căn cứ vào các quy định của Nhà nước triển khai thực hiện nội dung quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định này.

 

Điều 3. Chánh văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Giám đốc các sở: Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và PTNT, Công nghiệp, Thương mại Du lịch, Giao thông Vận tải, Xây dựng, Bưu chính Viễn thông, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Thể dục Thể thao, Văn hoá thông tin, Tài nguyên và Môi trường, Nội vụ; Thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan căn cứ quyết định thi hành./.

Các quy hoạch khác

Trang:      1  2  3